Chương 1: ĐÔI NET VE ĐẠO PHẬT VÀ GIỚI THIỆU VE MOT SO BẢN KINH GIÁO DỤC GIA ĐÌNH 1. Đôi nét về Phật giáo 1. Nguồn gốc sự ra đời của của Phật giáo Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Tất-đạt-đa (Shidartha) sinh năm 624 trước công nguyên thuộc dòng họ Thích-ca (Sakya), con vua Tịnh-phạn (Sudhodana) tri vì nước Ca-ty-la-vé (Kapilavastu) xứ Trung Ấn Độ lúc đó và hoảng hậu Ma-da (Maya). Dù sống trong cuộc đời vương giả nhưng Thái tử vẫn nhận ra sự đau khổ của nhân sinh, vô thường của thé sự nên đã quyết tâm xuất gia nhăm tìm ra căn nguyên của đau khô và phương pháp diệt trừ đau khổ dé giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.
Sau nhiều năm tìm thầy học đạo, Thái tử nhận ra phương pháp tu hành của các vị đó đều không thé giải thoát cho con người hết khổ. Cuối cùng, Thái tử đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ dé và lập thé nguyện “Nếu Ta không thành dao thì dù thịt nát xương tan, Ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này”. Sau 49 ngày đêm thiền định, Thái tử đã đạt được Đạo vô thượng, thành bậc “Chính đăng chính giác”, hiệu là Phật Thích Ca Mau Ni. Phật giáo được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ 6 TCN.
Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm (theo Đại thừa) khi Đức Phật còn tại thế ra nhiều nơi, đến nhiều thành phần trong xã hội. Vì vậy, lịch sử phát triển của đạo Phật khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu học. Ngay từ buổi đầu, Đức Phật Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tô chức được một giáo hội với các giới luật chặt chẽ. Nhờ vào sự uyên chuyên của giáo pháp, đạo Phật có thê thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập tục ở các thời kỳ khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thé giới ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu.
Tư tưởng chủ đạo của dao Phat là dạy con người hướng thiện, có tri thức dé xây dựng cuộc sống tốt dep yên vui trong hiện tại. Dao Phat không công nhận có một đắng tối cao chi phối đời sống của con người, không ban phúc hay giáng hoa cho ai mà trong cuộc sống mỗi người đều phải tuân theo luật Nhân - Quả, làm việc thiện thì được hưởng phúc và làm việc ác thì phải chịu báo ứng. Đạo Phật còn thể hiện là một tôn giáo tiến bộ khi không có thái độ phân biệt đăng cấp. Đức Phật đã từng nói: “Không có đắng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đăng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn”.
Ngoài ra, đạo Phật cũng thể hiện tinh thần đoàn kết và không phân biệt giữa người tu hành và tín đồ, quan điểm của đạo Phật là “Tứ chúng đồng tu”, đó là Tăng, NI, Phật tử nam và Phật tử nữ đều cùng được tu và nếu ai có quyết tâm đều có thê thành tựu như Đức Phật. Ý nghĩa Kinh điển Phật giáo Trong 49 năm thuyết pháp, Đức Phật đã tuỳ theo căn cơ, đối tượng người nghe; tuỳ vào từng vấn đề; tuỳ vào phạm vi thời gian, không gian, điều kiện, hoàn cảnh. mà thuyết giảng. Sau khi Phật nhập Niết bàn, các vị Bồ tát, Thánh tăng đã tô chức 4 lần kết tập kinh điển dé lưu truyền giáo lý của Phật về sau cho các hang đệ tử có điều kiện tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu và thực hành.
- Kết tập kinh điển thứ nhất được tô chức tại thành Vương-xá (Rajgir) sau khi Phat nhập diệt 7 ngày (một số tài liệu nói là 3 tháng) tập trung vào việc các Đại đệ tử của Phật tổng hợp và tụng lại các phần Kinh — Luật, tuy nhiên kết tập kinh điển lần này chỉ là sự tổng hợp và truyền tụng lại cho nhau qua lời nói, chưa có điều kiện dé lưu lại trên văn tự. - Kết tập kinh điển thứ hai được tô chức tại thành Tỳ-xá-ly (Vessali) sau khi Phật nhập diệt hơn 100 năm dé luận giải kinh điển, thực hành giới luật và tranh luận về 10 điều luật mới do một bộ phận Tỳ kheo trẻ đưa ra. - Kết tập kinh điển lần thứ ba được tổ chức tai Thành Hoa Thị (Pataliputta); sau khi Phat nhập diệt 236 năm va cho đến lúc này cả 3 tạng Kinh — Luật — Luận mới chính thức được ghi chép bang văn tự Pa li vào các lá bối. - Kết tập kinh điền lần thứ tư được tô chức tại thành Ca-thap-di-la (Kashmir) sau khi Phật nhập diệt khoảng 600 năm.
3 tạng Kinh — Luật — Luận thời ky này đã được khắc bằng chữ Phạn vào các lá đồng dát mỏng. Do đó, Kinh sách của Phật giáo được chia làm 3 tạng (Tam tạng kinh điển): 10 - Kinh tạng: Là những sách ghi chép lời Phật giảng dạy về giáo lý, còn gọi là Khé kinh, có nghĩa như là một chân lý. - Luật tạng: Là sách ghi chép những giới luật của Phật chế định dành cho 2 chúng xuất gia và 2 chúng tại gia phải tuân theo trong quá trình sinh hoạt và tu học, đặc biệt là các quy định đối với hàng đệ tử xuất gia. - Luận tạng: là sách giảng giải ý nghĩa về kinh, luật.
Về số lượng, kinh sách của Phật giáo được coi là một kho tàng vĩ đại với rất nhiều trước tác, bình luận, giải thích giáo lý và rất nhiều các lĩnh vực khác, như: Văn học, triết học, nghệ thuật, luân lý học được truyền bá khắp thế giới và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nguyên bản thì chép bằng chữ Pali và chữ Phạn. Tuy nhiên, Kinh tạng bao gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử. Hiện tại Phật giáo có 2 hệ Kinh tạng: Kinh tạng Nam truyền (Nikaya) được phiên dịch từ tiếng Pali và được xem là gần gũi với lời Phật dạy nhất; gồm năm bộ: 1.
Trường bộ kinh (pi. Trung bộ kinh (pi. Tương ưng bộ kinh (pi. Tăng chi bộ kinh (pi.
aäguttara-nikãya) và 5. Tiểu bộ kinh (pi. Ngoài ra còn có bốn bộ A-hàm viết băng tiếng Phan: Trường A-hàm (tương ứng với Trường bộ kinh), Trung A-hàm (tương ứng với Trung bộ kinh), Tăng nhất A-hàm, và Tạp A-hàm. Kinh tạng Bắc truyền: Điển hình như các bộ Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Kim Cương, Bát Nhã.
Giáo lý của đạo Phật có rất nhiều nhưng đều xuất phát từ thực tẾ cuộc sống, không trừu tượng, siêu hình, không ép buộc mà hoàn toàn chỉ mang tính định hướng để cho mọi người tuỳ điều kiện, hoàn cảnh, nhận thức áp dụng linh hoạt dé dù tu theo cách nào trong 84.000 pháp môn tu Đức Phật đã chỉ ra thì cuối cùng cũng đạt đến mục đích sống yên vui, 4m no và hạnh phúc cho mỗi người, cho gia đình và xã hội. Dé đạt được những thành tựu trên, việc nghiên cứu, thực hành điều Phật dạy trong các bản kinh là điều mang tính quyết định đến thành quả của mỗi người. Có thê nói răng, kinh điển ngoài ý nghĩa là những lời Đức Phật thuyết giảng trong suốt cuộc đời, được ghi chép lại và xem đó như là di sản quý báu thì nó còn mang ý 11 nghĩa như cầu nối trung gian, là bước đệm cho người tu học. Sở đĩ kinh điển mang những ý nghĩa như trên vì: Kinh được gọi đầy đủ là Khế kinh, với ý nghĩa khái quát là những lời Phật dạy khế hợp, phù hợp với mọi đối tượng, mọi hoàn cảnh.
Dù cho ở thời đại nào, đối tượng thực hành là ai, thì Kinh luôn luôn đáp ứng được yêu cầu và thay đổi của con người, thời đại, và mang lại lợi ích thiết thực trong cuộc sống cho người thực tập. Giới thiệu một số bản kinh giáo dục gia đình 1. Khát niệm giáo duc trong Phật giáo Nói đến giáo dục là nói đến con người, giáo dục là nền tảng căn bản của Phật giáo. Mục đích ra đời của Đức Phật như trong tông chỉ kinh Pháp Hoa là “khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật trí kiến”, tuy nhiên do mỗi đối tượng trình độ căn cơ khác nhau, nên Ngài đã tuỳ duyên, ứng dụng nhiều phương pháp giáo hoá khác nhau, với mục đích duy nhất là giúp chúng sinh giác ngộ, thoát khỏi khổ dau.
Có thé nói nền tảng giáo dục rốt ráo của đạo Phật bao gom tam tang kinh dién, duoc goi la Phat pháp. Phật pháp là phương tiện nhằm giúp con người thấu hiểu chân lý giác ngộ giải thoát, người học Phật thông qua Tứ diệu dé, déng thời nương theo Bát chính dao, nỗ lực tu hành trên căn bản Giới — Định - Tuệ đề giải thoát khỏi luân hồi sinh tử. Bản thân Phật giáo vốn đã là nền giáo dục đa văn hóa, bởi tính thích nghi hòa hợp dung thông của Phật giáo với tất cả nền văn hóa có mặt trên thế giới. Ngoài ý nghĩa Phật giáo là một tổ chức tôn giáo thì từ “Phật giáo” ở đây xin được hiểu đó là những lời Phật dạy, thường được gọi là giáo lý, bởi nội dung những lời dạy của Đức Phật đều nhắm đến mục đích giáo dục đời sống đạo đức của con người, giáo dục đời sống giác ngộ giải thoát.
Giáo lý của Đức Phật còn mang tính giáo dục, mục đích giáo dục, phương pháp giáo dục, đối tượng giáo dục. trên thực tế, những lời Phật dạy có nội dung tư tưởng giáo dục luôn mang lại lợi ích thiết thực và bền vững nhất so với bất kỳ giáo thuyết nào, của nhà giáo dục nào từ xưa đến nay, chính vì vậy Đức Phật được tôn vinh là nhà giáo dục vĩ đại của nhân loại. Giáo dục là sự thé hiện truyền thụ nhân cách dao đức từ người có kiến thức và mẫu mực trong đời sống, tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến người học, tất nhiên là phải thông qua suy nghĩ, lời nói và việc làm của mình. Cụ thê của hành vi 12 đó là sự truyền trao tri thức, kinh nghiệm sống, nhân cách đạo đức từ người thầy đến học trò, giúp người học được trang bị kiến thức và hoàn thiện nhân cách nâng cao đời sống đạo đức.
Do vậy, người đảm nhận công việc giáo dục trước hết phải tự hoàn thiện bản thân, yêu cầu tối thiêu là phải đảm bảo nhân cách và đạo đức, kế đến là phải hội đủ kiến thức cũng như trình độ chuyên môn nhất định, nhằm đáp ứng nhu cầu của người học.