Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của tác giả Lê Thị Thanh Huệ với đề tài "Giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc" được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên (năm 2023), thuộc ngành Lý luận và Lịch sử giáo dục (mã số 9.02), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Thanh Huyền.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công cuộc đổi mới giáo dục mầm non tại Việt Nam đã chuyển dịch mạnh mẽ từ tiếp cận trang bị kiến thức sang định hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho trẻ, được định chế qua Quyết định số 5205/QĐ-BGDĐT năm 2006, Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT, Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT và Thông tư số 51/2020/TT-BGDĐT. Cùng với đó, các quy định pháp lý như Nghị định số 80/2017/NĐ-CP và Chỉ thị số 505/CT-BGDĐT đặt ra yêu cầu bảo đảm môi trường giáo dục an toàn và phòng, chống tai nạn thương tích, bạo lực học đường.

Khu vực miền núi phía Bắc là địa bàn đặc thù với địa hình đồi núi chia cắt, độ dốc lớn, thời tiết khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra mưa lũ, lũ quét, sạt lở đất. Phần lớn trẻ em là người dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Trẻ mầm non 5-6 tuổi ở khu vực này đối diện với nguy cơ cao về mất an toàn: quãng đường đi bộ đến trường xa mà không có người lớn đưa đón; nguy cơ đuối nước, bỏng, động vật hoang dã tấn công, tai nạn giao thông, bắt cóc, xâm hại và việc trẻ phải ở nhà một mình do cha mẹ đi làm xa.

Mặc dù việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ đã được triển khai, song tác giả nhận định hoạt động này tại các trường mầm non miền núi phía Bắc chủ yếu mới dừng lại ở việc lồng ghép thụ động vào chế độ sinh hoạt hàng ngày. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, bài bản về quy trình, nội dung, hình thức và tiêu chí đánh giá kĩ năng tự bảo vệ theo tiếp cận trải nghiệm có tính đến rào cản ngôn ngữ tiếng Việt và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em vùng cao.

Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm ở trường mầm non, đề tài đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm nhằm phát triển kĩ năng tự bảo vệ của trẻ, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi và chất lượng chăm sóc - giáo dục ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc.

Câu hỏi và giả thuyết khoa học

Luận án xác lập giả thuyết khoa học: Trẻ em sống ở khu vực miền núi có nhiều nguy cơ bị mất an toàn nên cần được trang bị đầy đủ các kĩ năng tự bảo vệ thiết yếu và việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non chưa chú trọng gắn với thực tiễn môi trường thực tế xung quanh để trẻ nhận diện. Nếu giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non được tiến hành theo tiếp cận trải nghiệm bằng quy trình tổ chức phù hợp với điều kiện địa phương; kết hợp xây dựng các tình huống giả định cho trẻ trải nghiệm mô phỏng; được đánh giá kĩ năng của trẻ bằng các tiêu chí được xây dựng trên cơ sở quan sát theo quá trình; với môi trường vật chất, tâm lí đa dạng theo hướng tăng cường cho trẻ trải nghiệm; có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, giáo viên với gia đình, cộng đồng thì sẽ nâng cao được kĩ năng tự bảo vệ của trẻ khu vực miền núi phía Bắc.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm ở trường mầm non khu vực miền núi.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc.
  3. Đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc.
  4. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
  • Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc.
  • Giới hạn phạm vi nội dung: Đánh giá, phân tích 5 nhóm kĩ năng tự bảo vệ của trẻ 5-6 tuổi trước và sau thực nghiệm, bao gồm:
    1. Kĩ năng phòng tránh những nơi không an toàn, những vật dụng nguy hiểm đến tính mạng và những hành động nguy hiểm;
    2. Kĩ năng ăn uống an toàn;
    3. Kĩ năng phòng tránh xâm hại;
    4. Kĩ năng phòng tránh lạc đường và bắt cóc;
    5. Kĩ năng nhận diện một số trường hợp khẩn cấp và gọi người giúp đỡ.
  • Giới hạn không gian và mẫu khảo sát: Khảo sát thực trạng trên 575 giáo viên thuộc 9 tỉnh và 220 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại 10 trường mầm non thuộc 5 tỉnh khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam; tổ chức thực nghiệm sư phạm tại 2 trường mầm non thuộc huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
  • Giới hạn thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2020 đến tháng 08/2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong văn bản được tác giả phân định thành ba hướng chính:

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Nghiên cứu về giáo dục theo tiếp cận trải nghiệm:

    • Nghiên cứu quốc tế: Luận án phân tích các học thuyết nền tảng gồm lí thuyết "Vùng phát triển gần" của L.S. Vygotsky (1978); quan điểm "học qua làm" (learning by doing) trong công trình Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education) của John Dewey (1938); mô hình chu trình học tập thực nghiệm "T-nhóm và phương pháp phòng thí nghiệm" của Kurt Lewin (1951); 4 giai đoạn phát triển trí tuệ của trẻ em của Jean Piaget (1972); lí thuyết học qua trải nghiệm với chu trình 4 giai đoạn tuần hoàn (Kinh nghiệm cụ thể - Quan sát phản chiếu - Khái niệm hóa - Thử nghiệm tích cực) trong công trình Kinh nghiệm là nguồn học tập và phát triển của David Kolb (1984); cùng phương pháp học qua các giác quan và giáo cụ của Maria Montessori (1936).
    • Nghiên cứu trong nước: Kể từ Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, các tác giả Nguyễn Thị Liên và cs (2016), Nguyễn Thị Chi (2019), Nguyễn Thị Thu Hà (2017), Nguyễn Thị Thùy Trang (2017), Đặng Thị Thúy Hồng (2017), Lê Thị Kim Anh (2016, 2018), Võ Trung Minh (2019) đã nghiên cứu hoạt động trải nghiệm ở trường phổ thông. Đối với giáo dục mầm non, các công trình của Hoàng Thị Phương và Lã Thị Bắc Lí (2016, 2020), Nguyễn Mạnh Tuấn (2017), Cao Thị Hồng Nhung (2017), Ngô Công Hoàn (2016), Nguyễn Thị Hương (2020) đã xây dựng các mô hình tổ chức và biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm.
  2. Nghiên cứu về kĩ năng tự bảo vệ và giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ:

    • Nghiên cứu quốc tế: Cheryl Poche và cs (1988) nghiên cứu kỹ thuật truyền hình kết hợp diễn tập phòng chống bắt cóc; Potenza và cs (2013), Adiele (2010) nghiên cứu nhu cầu an toàn; Wurtele và Owens (1997), Deblinger và Runyon (2000), Runyon và cs (1998) nghiên cứu kĩ năng phòng chống xâm hại tình dục; Conte & Fogarty (1989), Kenny (2008) nhấn mạnh vai trò của cha mẹ và phòng ngừa xâm hại; Chen (2011), Banks Aaron L. (2010), Melanie (2008), Liebling (2006) phân tích cơ sở lí luận về tự vệ và phòng ngừa rủi ro cho học sinh.
    • Nghiên cứu trong nước: Vận dụng chương trình phòng hỏa hoạn Hoa Kỳ của Nguyễn Thị Mĩ Dung (2014); bài học kinh nghiệm quốc tế về phòng chống tai nạn thương tích của Nguyễn Thị Thu Huyền (2018, 2020); tài liệu hướng dẫn phòng chống tai nạn thương tích của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015); các giáo trình và cẩm nang kĩ năng sống của Nguyễn Thanh Bình (2008), Huỳnh Văn Sơn (2014), Nam Hồng - Dương Phong - Ngọc Lan (2015), Nguyễn Thị Mĩ Lộc (2012), Lâm Trinh (2016), Nguyễn Thị Xuân Hương (2017), Vũ Thị Ngọc Minh và Nguyễn Thị Nga (2018), Vũ Thanh Hoà (2020), Nguyễn Thị Tĩnh (2020).
  3. Nghiên cứu về giáo dục kĩ năng thông qua hoạt động trải nghiệm cho trẻ mầm non:

    • Các công trình của Nguyễn Thị Thu Hạnh (2017), Nguyễn Thị Hải Yến (2018), Chu Thị Hồng Nhung (2020), Nguyễn Thị Xuân (2020), Trần Thị Huyền (2020) và Nguyễn Thị Hồng Vân (2020) đã bước đầu kết nối mô hình của David Kolb với việc giáo dục kĩ năng xã hội, lòng nhân ái hoặc kĩ năng đảm bảo an toàn cho trẻ.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ rõ: Các công trình đã công bố chủ yếu nghiên cứu hoạt động trải nghiệm nói chung hoặc giáo dục kĩ năng sống ở phạm vi diện rộng, chưa đi sâu vào từng kĩ năng chuyên biệt gắn với điều kiện địa lý - văn hóa cụ thể. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu cơ bản, hệ thống và chuyên sâu về giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm tại các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc – nơi có tính chất địa bàn hiểm trở, tỷ lệ tai nạn thương tích cao và đối tượng thụ hưởng là trẻ em dân tộc thiểu số còn rào cản lớn về ngôn ngữ tiếng Việt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm cốt lõi

  • Khái niệm kĩ năng và kĩ năng tự bảo vệ: Luận án tiếp cận quan niệm kĩ năng từ góc độ hành động và năng lực thực tiễn (Rudich, A. G. Covaliov, Trần Trọng Thủy). Kĩ năng tự bảo vệ của trẻ 5-6 tuổi được định nghĩa là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có một cách hợp lý, linh hoạt vào các tình huống thực tiễn nhằm giữ an toàn cho bản thân về thể chất và tinh thần.
  • Cấu trúc của kĩ năng tự bảo vệ: Bao gồm 4 thành tố liên kết: (1) Nhận thức về các tình huống nguy hiểm; (2) Trạng thái cảm xúc, thái độ ứng phó; (3) Hành động tự bảo vệ cụ thể; (4) Khả năng tự đánh giá và vận dụng kinh nghiệm vào hoàn cảnh mới.
  • Cấu trúc kĩ năng thành phần (9 nhóm): (1) Phòng tránh nơi/vật/hành động nguy hiểm; (2) Ăn uống an toàn; (3) Phòng tránh xâm hại; (4) An toàn giao thông; (5) Phòng tránh lạc đường và bắt cóc; (6) Nhận diện trường hợp khẩn cấp và gọi giúp đỡ; (7) Thực hiện quy tắc xã hội an toàn; (8) Vệ sinh thân thể và sức khỏe; (9) Tự bảo vệ trên không gian mạng.
  • Giáo dục theo tiếp cận trải nghiệm: Kế thừa mô hình học tập kinh nghiệm 4 bước của David Kolb và quan điểm học qua làm của John Dewey, quá trình giáo dục được thiết kế để trẻ tương tác trực tiếp với sự vật, hiện tượng thực tế hoặc tham gia các tình huống giả định mô phỏng, từ đó chiêm nghiệm và rút ra quy tắc ứng xử an toàn.

Các cách tiếp cận nghiên cứu

Luận án quán triệt 5 cách tiếp cận: tiếp cận hệ thống - cấu trúc; tiếp cận hoạt động; tiếp cận thực tiễn; tiếp cận tích hợp; tiếp cận năng lực.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Nhóm phương pháp Phương pháp cụ thể Quy mô, đối tượng và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu lí luận Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa Các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình giáo dục mầm non, tài liệu khoa học trong và ngoài nước về tâm lí học, giáo dục học trải nghiệm.
Nghiên cứu thực tiễn Điều tra bằng bảng hỏi 575 giáo viên mầm non tại 9 tỉnh miền núi phía Bắc; 220 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại 10 trường mầm non thuộc 5 tỉnh.
Quan sát sư phạm Quan sát hành vi tự bảo vệ của trẻ và các hoạt động tổ chức giờ dạy của giáo viên theo phiếu quan sát chuẩn hóa.
Đàm thoại, phỏng vấn sâu Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên cốt cán để làm rõ thực trạng và nguyên nhân các hạn chế.
Phương pháp chuyên gia Xin ý kiến cán bộ quản lý, nhà nghiên cứu giáo dục mầm non về thang đo, tiêu chí đánh giá và tính khả thi của 5 biện pháp.
Nghiên cứu sản phẩm hoạt động Giáo án, kế hoạch giáo dục của giáo viên; các sản phẩm trải nghiệm của trẻ (tranh vẽ, hình ảnh, video).
Nghiên cứu trường hợp Phân tích sâu các tình huống ứng xử cụ thể của trẻ trong môi trường giả định và thực tế.
Thực nghiệm sư phạm Thực nghiệm so sánh nhóm tương đương 2 trường mầm non tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên (phân chia nhóm Thực nghiệm và nhóm Đối chứng).
Thống kê toán học Thống kê mô tả và suy luận Phần mềm SPSS 20.0: kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha), kiểm nghiệm sai khác trung bình (Paired Sample T-test), phân tích tương quan Pearson r.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm ở trường mầm non khu vực miền núi

Chương này làm sáng tỏ hệ thống khái niệm công cụ: trải nghiệm, giáo dục theo tiếp cận trải nghiệm, kĩ năng tự bảo vệ và giáo dục kĩ năng tự bảo vệ. Tác giả phân tích bản chất của giáo dục trải nghiệm đối với trẻ mầm non là phương thức gắn liền nhận thức với hành động, dựa trên vốn sống trực tiếp và giải phóng năng lượng cảm xúc tích cực cho trẻ qua cơ chế "thử và sai".

Luận án chỉ ra ưu thế của giáo dục trải nghiệm đối với trẻ 5-6 tuổi vùng cao: bù đắp sự thiếu hụt phương tiện thông tin hiện đại, khắc phục tâm lý rụt rè, đồng thời là môi trường tăng cường tiếng Việt tự nhiên cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi bước vào lớp 1.

Về cơ sở xác định nội dung, chương 1 viện dẫn Chương trình Giáo dục mầm non và 12 chỉ số cốt lõi trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi (Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT: chỉ số 15, 16, 18, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 55). Đồng thời, tác giả phân tích 6 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giáo dục gồm:

  1. Đặc điểm tâm lí và vốn kinh nghiệm của trẻ;
  2. Năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của giáo viên mầm non;
  3. Chương trình giáo dục mầm non;
  4. Sự phối hợp giữa nhà trường, giáo viên với phụ huynh và xã hội;
  5. Thời gian, không gian và địa điểm tổ chức;
  6. Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ hoạt động.

Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc

Chương 2 mô tả địa bàn khảo sát 9 tỉnh miền núi phía Bắc với những đặc trưng tự nhiên khắc nghiệt, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhiều hủ tục và địa bàn cư trú phân tán. Khảo sát thực trạng được thực hiện trên mẫu 575 giáo viên và 220 trẻ 5-6 tuổi. Thang đo kĩ năng tự bảo vệ của trẻ được kiểm định độ tin cậy qua hệ số Cronbach's Alpha đạt tiêu chuẩn thống kê.

Kết quả xử lý số liệu phản ánh:

  • Thực trạng kĩ năng của trẻ: Điểm trung bình kĩ năng tự bảo vệ của trẻ ở mức trung bình và chưa đồng đều giữa các tiêu chí. Kĩ năng nhận diện nguy cơ và kĩ năng xử lí tình huống thực tế còn yếu. Trẻ đặc biệt lúng túng trong các kĩ năng phòng tránh xâm hại cơ thể, kĩ năng ứng phó khi bị lạc đường hoặc gặp người lạ bắt cóc, và kĩ năng gọi trợ giúp trong tình huống khẩn cấp.
  • Thực trạng hoạt động của giáo viên: Phần lớn giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục trải nghiệm nhưng việc triển khai thực tế còn nặng tính hình thức, thiên về thuyết giảng hoặc nhắc nhở một chiều. Việc xây dựng các tình huống giả định mô phỏng còn hạn chế; việc tận dụng không gian tự nhiên sẵn có của địa phương chưa linh hoạt.
  • Khó khăn và lực cản chính: Khảo sát xác định 3 rào cản lớn nhất gồm: sự hạn chế về vốn tiếng Việt và sự nhút nhát của trẻ em dân tộc thiểu số; thiếu hụt cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi chuyên biệt cho hoạt động trải nghiệm; mức độ phối hợp của phụ huynh học sinh còn rất thấp do cha mẹ đi làm ăn xa hoặc thiếu kiến thức an toàn cho con trẻ.

Chương 3: Biện pháp giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc

Tác giả xác định 5 nguyên tắc đề xuất biện pháp: (1) Đảm bảo mục tiêu và chương trình giáo dục mầm non; (2) Phù hợp với đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi khu vực miền núi phía Bắc; (3) Đảm bảo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm; (4) Đảm bảo tính thực tiễn, khả thi và hiệu quả; (5) Đảm bảo tính hệ thống và tính phát triển.

Hệ thống 5 biện pháp cụ thể được xây dựng bao gồm:

Biện pháp Nội dung và phương thức triển khai
Biện pháp 1 Xây dựng quy trình giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm phù hợp với điều kiện địa phương: Xác lập quy trình tổ chức hoạt động tuần hoàn theo các giai đoạn trải nghiệm (chuẩn bị, tiếp xúc trải nghiệm trực tiếp/mô phỏng, phân tích phản hồi, rút ra bài học ứng xử an toàn và vận dụng vào thực tế sinh hoạt).
Biện pháp 2 Xây dựng và sử dụng các tình huống giả định cho trẻ trải nghiệm mô phỏng: Thiết kế ngân hàng tình huống mô phỏng trực quan gần gũi với trẻ miền núi (gặp người lạ dụ dỗ, lạc trong rừng/chợ phiên, nguy cơ đuối nước ở suối, hỏa hoạn, bị vật nhọn/côn trùng độc cắn) để trẻ tập dượt thao tác phòng vệ và kêu cứu.
Biện pháp 3 Xây dựng môi trường giáo dục đa dạng và theo hướng mở nhằm tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm: Cải tạo khuôn viên trường lớp, tận dụng tối đa không gian tự nhiên (vườn cây, đồi cỏ, mô hình giao thông mini, góc an toàn) bằng các nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương; tạo môi trường tâm lý thoải mái để trẻ tự tin giao tiếp bằng tiếng Việt.
Biện pháp 4 Phối hợp thường xuyên giữa giáo viên, nhà trường với gia đình và cộng đồng: Thiết lập kênh trao đổi thông tin định kỳ; tập huấn cho phụ huynh học sinh vùng cao về nguy cơ tai nạn thương tích tại gia đình và nương rẫy; phối hợp lực lượng y tế, công an xã trong tổ chức hoạt động giáo dục an toàn cho trẻ.
Biện pháp 5 Xây dựng và sử dụng tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục kĩ năng tự bảo vệ theo tiếp cận trải nghiệm (vận dụng quan sát theo quá trình): Thiết lập bộ công cụ đánh giá dựa trên quá trình hành động của trẻ theo 6 tiêu chí biểu hiện, tránh lối đánh giá máy móc chỉ dựa vào câu trả lời lý thuyết.

Chương này cũng phân tích rõ mối quan hệ hữu cơ, gắn kết chặt chẽ giữa 5 biện pháp: Biện pháp 1 định hướng quy trình khung; Biện pháp 2 và 3 cung cấp công cụ tình huống và môi trường hoạt động; Biện pháp 4 huy động sức mạnh liên lực lượng; Biện pháp 5 đóng vai trò kiểm soát và phản hồi chất lượng.

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Nội dung thực nghiệm được triển khai tại 2 trường mầm non trên địa bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên nhằm kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết khoa học. Thiết kế thực nghiệm bao gồm nhóm Thực nghiệm (TN) áp dụng đồng bộ 5 biện pháp đề xuất và nhóm Đối chứng (ĐC) duy trì các phương pháp giáo dục truyền thống theo phân phối chương trình thông thường.

Quá trình đánh giá được thực hiện qua hai giai đoạn (trước thực nghiệm và sau thực nghiệm) dựa trên 6 tiêu chí:

  1. Cảm giác thoải mái của trẻ khi tham gia hoạt động;
  2. Mức độ tham gia tích cực, chủ động;
  3. Khả năng nhận thức về nguy cơ mất an toàn;
  4. Kĩ năng thực hiện hành động tự bảo vệ;
  5. Khả năng tự đánh giá kết quả hành động của bản thân;
  6. Khả năng vận dụng kinh nghiệm vào tình huống mới.

Các số liệu được thống kê qua SPSS 20.0 cho thấy:

  • Trước thực nghiệm: Điểm trung bình và tỷ lệ các mức độ kĩ năng tự bảo vệ giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là tương đương nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
  • Sau thực nghiệm: Nhóm thực nghiệm đạt sự tăng trưởng vượt bậc ở cả 6 tiêu chí. Điểm trung bình kĩ năng tự bảo vệ của nhóm thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng. Kết quả kiểm định Paired Sample T-test cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cao (p < 0,05). Tỷ lệ trẻ đạt mức Tốt và Khá ở nhóm thực nghiệm tăng cao, tỷ lệ trẻ ở mức Trung bình và Yếu giảm mạnh so với nhóm đối chứng.
  • Tương quan Pearson r: Phân tích hệ số tương quan cho thấy mối quan hệ thuận chặt chẽ giữa mức độ nhận thức, cảm giác thoải mái và hành động thực tế của trẻ sau khi trải qua các hoạt động mô phỏng thực hành.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lí luận

  • Kế thừa và hệ thống hóa khung lý thuyết về giáo dục theo tiếp cận trải nghiệm trong bối cảnh giáo dục mầm non, cụ thể hóa học thuyết của David Kolb và John Dewey vào nhiệm vụ giáo dục kĩ năng tự bảo vệ.
  • Xác định rõ khái niệm, bản chất, cấu trúc 4 thành tố và 9 nhóm kĩ năng thành phần của kĩ năng tự bảo vệ ở trẻ 5-6 tuổi.
  • Luận giải cơ sở khoa học về sự tương thích giữa phương thức giáo dục trải nghiệm với đặc điểm nhận thức trực quan hình tượng và nhu cầu tăng cường tiếng Việt của trẻ em dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực trạng định lượng và định tính về kĩ năng tự bảo vệ của trẻ 5-6 tuổi và thực tiễn tổ chức hoạt động của giáo viên tại 9 tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Chỉ ra cụ thể các rào cản mang tính vùng miền: rào cản ngôn ngữ, tâm lý nhút nhát, điều kiện địa hình chia cắt, nguy cơ thiên tai và sự hạn chế trong nhận thức của phụ huynh học sinh vùng cao.
  • Đề xuất hệ thống 5 biện pháp sư phạm đồng bộ, kèm theo quy trình tổ chức, hệ thống tình huống giả định mô phỏng và bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng tự bảo vệ dựa trên quan sát theo quá trình.
  • Kết quả thực nghiệm tại huyện Định Hóa (Thái Nguyên) khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp trong việc nâng cao rõ rệt các chỉ số kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Sở/Phòng Giáo dục và Đào tạo: Cần ban hành tài liệu hướng dẫn cụ thể về giáo dục kĩ năng tự bảo vệ theo tiếp cận trải nghiệm; định kỳ tổ chức tập huấn chuyên đề cho cán bộ quản lý và giáo viên các tỉnh miền núi; tăng cường đầu tư trang thiết bị, học liệu an toàn trường học.
  • Đối với các trường mầm non và giáo viên: Chủ động linh hoạt kế hoạch giáo dục gắn với đặc thù địa phương; xây dựng môi trường mở tận dụng thiên nhiên sẵn có; chú trọng thiết kế các bài tập tình huống mô phỏng; tích hợp giáo dục an toàn với việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ.
  • Đối với gia đình và cộng đồng: Nâng cao trách nhiệm phối hợp với nhà trường; tham gia các buổi tuyên truyền phòng chống tai nạn thương tích; giám sát chặt chẽ trẻ trong thời gian ở nhà và trên đường đến trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi địa bàn thực nghiệm: Mặc dù mẫu khảo sát thực trạng được tiến hành rộng trên 9 tỉnh miền núi phía Bắc, nhưng giai đoạn thực nghiệm sư phạm mới chỉ thực hiện tại 2 trường mầm non thuộc một địa bàn cụ thể là huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
  • Đối tượng nghiên cứu: Luận án mới chỉ tập trung sâu vào nhóm trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), chưa khảo sát và thực nghiệm mở rộng ở các lứa tuổi nhỏ hơn (nhà trẻ, mẫu giáo bé 3-4 tuổi và mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi).
  • Yếu tố thời gian và bối cảnh: Quá trình nghiên cứu thực tế từ tháng 01/2020 đến tháng 08/2022 diễn ra trong bối cảnh có những giai đoạn giãn cách xã hội do dịch bệnh, gây ảnh hưởng nhất định đến tiến độ tổ chức một số hoạt động trải nghiệm thực địa ngoài không gian lớp học.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi thực nghiệm sư phạm sang các tỉnh miền núi có điều kiện tự nhiên và cơ cấu dân tộc khác biệt (như các tỉnh Tây Bắc: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La) để kiểm tra độ thích ứng của hệ thống biện pháp.
  • Nghiên cứu xây dựng quy trình giáo dục kĩ năng tự bảo vệ theo tiếp cận trải nghiệm nối tiếp cho các độ tuổi 3-4 tuổi và 4-5 tuổi nhằm hình thành chuỗi kĩ năng liên tục ở bậc học mầm non.
  • Phát triển hệ thống tài liệu và học liệu số hóa mô phỏng các tình huống an toàn tích hợp song ngữ (tiếng Việt và tiếng dân tộc bản địa) để hỗ trợ giáo viên và phụ huynh vùng sâu, vùng xa.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Công trình là nguồn tài liệu chuyên khảo tham khảo về việc vận dụng lý thuyết giáo dục trải nghiệm (David Kolb, John Dewey) vào một phân môn cụ thể của khoa học giáo dục mầm non; cung cấp khung phương pháp luận kết hợp định tính và định lượng, cùng kỹ thuật xử lý dữ liệu kiểm định sư phạm bằng SPSS (Cronbach's Alpha, Paired Sample T-test, Pearson r).
  • Đối với cán bộ quản lý và giáo viên mầm non khu vực miền núi: Luận án cung cấp cẩm nang thực hành trực tiếp gồm: danh mục chủ đề trải nghiệm, kịch bản chi tiết của các tình huống giả định mô phỏng, phương thức xây dựng môi trường mở từ vật liệu địa phương và phiếu tiêu chí quan sát đánh giá kĩ năng trẻ theo quá trình.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách giáo dục và các tổ chức xã hội: Cung cấp các cứ liệu thực chứng về thực trạng tai nạn thương tích, nguy cơ mất an toàn của trẻ em dân tộc thiểu số vùng cao, làm cơ sở khoa học để xây dựng chính sách đầu tư cơ sở vật chất và chương trình bảo vệ trẻ em tại các địa bàn khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát thực trạng trên quy mô mẫu như thế nào và tại các địa bàn nào?

Khảo sát thực trạng được thực hiện trên mẫu định lượng gồm 575 giáo viên mầm non công tác tại 9 tỉnh khu vực miền núi phía Bắc và 220 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại 10 trường mầm non thuộc 5 tỉnh trong khu vực.

2. Năm nhóm kĩ năng tự bảo vệ nào được lựa chọn để đánh giá trực tiếp trong khảo sát và thực nghiệm?

Luận án tập trung đánh giá 5 nhóm kĩ năng cốt lõi:

  1. Kĩ năng phòng tránh những nơi không an toàn, những vật dụng nguy hiểm đến tính mạng và những hành động nguy hiểm;
  2. Kĩ năng ăn uống an toàn;
  3. Kĩ năng phòng tránh xâm hại;
  4. Kĩ năng phòng tránh lạc đường và bắt cóc;
  5. Kĩ năng nhận diện một số trường hợp khẩn cấp và gọi người giúp đỡ.

3. Tác giả đề xuất bao nhiêu biện pháp giáo dục và biện pháp nào liên quan trực tiếp đến phương pháp mô phỏng?

Tác giả đề xuất hệ thống 5 biện pháp sư phạm. Trong đó, Biện pháp 2 ("Xây dựng và sử dụng các tình huống giả định cho trẻ trải nghiệm mô phỏng") là biện pháp trực tiếp sử dụng phương pháp mô phỏng, giúp trẻ tập dượt các phản xạ tự vệ trong các kịch bản tình huống giả định trước khi đối diện thực tế.

4. Địa bàn thực nghiệm sư phạm ở đâu và các công cụ thống kê toán học nào được sử dụng?

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại 2 trường mầm non thuộc huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Dữ liệu thực nghiệm được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0, sử dụng các công cụ thống kê: hệ số tin cậy Cronbach's Alpha, kiểm nghiệm sai khác giá trị trung bình Paired Sample T-test giữa hai nhóm độc lập, và hệ số tương quan tuyến tính Pearson r.

5. Yếu tố vùng miền đặc thù nào ảnh hưởng rõ nét nhất đến việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ tại địa bàn nghiên cứu?

Các yếu tố đặc thù bao gồm: địa hình hiểm trở tiềm ẩn nguy cơ thiên tai lũ quét, sạt lở đất; trẻ em chủ yếu là người dân tộc thiểu số gặp rào cản về vốn tiếng Việt và tâm lý rụt rè; thói quen để trẻ tự đi bộ đến trường hoặc chơi ở nhà một mình do cha mẹ phải đi làm ăn xa; và điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng trải nghiệm an toàn tại các điểm trường còn nhiều thiếu thốn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Thanh Huệ đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lí luận và thực tiễn về giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm tại địa bàn đặc thù các tỉnh miền núi phía Bắc. Công trình đã làm rõ bức tranh thực trạng về mức độ kĩ năng của trẻ cũng như những rào cản sư phạm do tính chất vùng miền, từ đó đề xuất 5 biện pháp giáo dục đồng bộ có cấu trúc quy trình, tình huống mô phỏng và thang tiêu chí quan sát theo quá trình. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại tỉnh Thái Nguyên đã chứng minh tính hiệu quả và độ tin cậy của các biện pháp đề xuất, đóng góp tư liệu khoa học thiết thực cho công tác nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục an toàn cho trẻ em mầm non vùng cao.