Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng hiểu biết giá trị bản thân và môi trường sống cho học sinh trường THCS theo tiếp cận tham gia trải nghiệm. Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng hiểu biết giá trị bản thân và môi trường sống cho học sinh trường THCS thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo tiếp cận tham gia trải nghiệm. Chương 3: Các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng hiểu biết giá trị bản thân và môi trường sống cho học sinh trường THCS thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo tiếp cận tham gia trải nghiệm. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG HIỂU BIẾT GIÁ TRỊ BẢN THÂN VÀ MÔI TRƢỜNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN THAM GIA TRẢI NGHIỆM 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Từ xa xưa, tầm quan trọng của giáo dục về nhận thức bản thân và hiểu biết về môi trường xung quanh đã được coi trọng. Giáo dục giá trị được nhiều người coi là một yếu tố then chốt thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Ở Trung Quốc cổ đại, tồn tại một triết gia và chính khách nổi tiếng tên là Khổng Tử.
Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sở hữu một tập hợp các đức tính mà ông gọi là “Gervana, kiên nhẫn, niềm tin, siêng năng và trí tuệ”. Năm đức tính này, còn được gọi là Ngũ vĩnh cửu, được coi là điều cần thiết để các cá nhân phấn đấu hướng tới. Khổng Tử coi trọng khái niệm về đức và coi “nhân” là đỉnh cao của đạo đức, coi đó là mục tiêu cuối cùng của sự hoàn thiện bản thân [25]. Tugarinov từ Liên Xô cũ, các giá trị bao gồm nhiều đối tượng, hiện tượng và thuộc tính của chúng.
Những yếu tố này rất cần thiết cho cả cá nhân và xã hội, đóng vai trò là phương tiện để đáp ứng nhu cầu và lợi ích của họ. Ngoài ra, các giá trị có thể bao gồm suy nghĩ và ý định, hoạt động như các tiêu chuẩn, mục đích hoặc lý tưởng [26, tr. John Steuart Mill, một triết gia, nhà kinh tế học, nhà logic học, nhà lý thuyết chính trị và nhà hoạt động xã hội nổi tiếng người Anh theo truyền thống thực chứng, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do cá nhân trong tác phẩm nổi tiếng của ông, “Về Tự do”, được xuất bản lần đầu ở Anh năm 1859. Mill lập luận rằng một trong những giá trị cơ bản của nhân loại là “quyền tự 6 do của mỗi người phải bị giới hạn bởi quyền tự do của người khác, và tự do xã hội nằm ở giao điểm giữa kiểm soát xã hội và quyền tự chủ của cá nhân.” Theo Mill, mỗi cá nhân nên có quyền tự do theo đuổi hạnh phúc của mình, miễn là nó không xâm phạm hạnh phúc của người khác hoặc cản trở nỗ lực của họ để đạt được nó.
Ông tin rằng mỗi người là người bảo vệ hợp pháp cho hạnh phúc của chính họ, bao gồm các khía cạnh thể chất, tinh thần và tâm linh. Mill ủng hộ quyền của các cá nhân được sống theo mong muốn của chính họ, thay vì bị ép buộc tuân theo những kỳ vọng do người khác áp đặt. Tsnunesaburo Makiguchi (1871 - 1945), một nhà lý luận và thực hành giáo dục nổi tiếng của Nhật Bản vào đầu thế kỷ 20, đã phát triển khái niệm “giáo dục tạo ra giá trị” bằng cách tổng hợp các tư tưởng triết học truyền thống của phương Đông. Makiguchi đề xuất rằng khái niệm này sẽ đóng vai trò là nền tảng cho việc tạo ra một hệ thống giáo dục mới hoặc cải cách hệ thống hiện tại [16].
Kohlberg, một triết gia, nhà tâm lý học và nhà giáo dục đạo đức nổi tiếng người Mỹ, đã dành những nghiên cứu của mình cho lĩnh vực phát triển tâm lý phức tạp ở cả trẻ em và người lớn, với sự nhấn mạnh vào các ứng dụng thực tế. Ngoài ra, ông đi sâu vào lĩnh vực đạo đức, cụ thể là phân tích quá trình nhận thức đằng sau những đánh giá đạo đức của các cá nhân. Công việc đột phá này được gói gọn một cách chuyên nghiệp trong ấn phẩm nổi tiếng của ông, “Triết học về sự phát triển đạo đức” [32]. Dramaliv (Bulgaria), giá trị được định nghĩa là “bộ phận khách quan bên trong xã hội”.
Nó là một dạng riêng biệt của hiện tượng xã hội, bao gồm các thực thể, đối tượng, mối liên hệ và ý tưởng đáp ứng nhu cầu cụ thể của con người. Các tác giả nói trên đều cho rằng giá trị là thuộc tính khách quan, là đặc điểm có khả năng đáp ứng nhu cầu, thể hiện rõ qua các tương tác xã hội giữa các cá nhân trong một thời đại lịch sử nhất định. Với tư cách là một thực thể xã hội, các giá trị không thể tách rời khỏi mong muốn, thái độ, ý 7 kiến và hành động của các cá nhân đóng vai trò là người tham gia tích cực trong các mối quan hệ và hiệp hội xã hội [26, tr. Trong xã hội hiện đại và đương đại ngày nay, chủ đề giáo dục và quản lý giáo dục dựa trên giá trị sống vẫn là một chủ đề được nhiều người quan tâm và quan tâm.
Các học giả và nhà văn, chẳng hạn như: A. Kuznesov, Armin Mahmoudi, UNICEF và UNESCO đã tiến hành nghiên cứu sâu rộng về vấn đề này. Tác phẩm “Định hướng giá trị của giới trẻ ngày nay” (1995) của A. Kuznesov đi sâu vào việc xem xét quỹ đạo hiện tại của giới trẻ định hướng giá trị ở Nga.
Tác giả đánh giá mức độ tham gia xã hội của các cá nhân trẻ bằng cách đánh giá sự công nhận của họ đối với các giá trị xã hội cơ bản, với mục đích thúc đẩy tiến bộ xã hội trong thời kỳ hậu xã hội chủ nghĩa. Mặc dù tác giả không thảo luận rộng rãi về các chiến lược quản lý, nhưng tác phẩm đã làm sáng tỏ một con đường mới cho những người thực hành giáo dục giá trị sống. Điều này đòi hỏi phải khuyến khích và tạo điều kiện cho thanh niên tham gia vào các nỗ lực xã hội và cộng đồng, đồng thời khám phá tác động của sự tham gia đó đối với sự phát triển và củng cố các giá trị cốt lõi. Ở Việt Nam Khái niệm “kỹ năng sống” xuất hiện vào năm 1996 qua một chương trình của UNICEF nhằm giáo dục các cá nhân trẻ, cả trong và ngoài trường học, về tầm quan trọng của việc hiểu bản thân, môi trường và các phương tiện để bảo vệ sức khỏe và ngăn ngừa HIV/ AIDS.
Chương trình này được hỗ trợ bởi các chuyên gia Úc. Năm 2003, UNESCO đã tổ chức hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” để làm rõ thêm về khái niệm kỹ năng sống. Để có cơ sở xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng hiểu biết bản thân và môi trường sống UNESCO đề xướng 12 giá trị sống cốt lõi. Đó là: Hoà bình, Tôn trọng, Yêu thương, Khoan dung, Trung thực, Khiêm tốn, Hợp tác, Hạnh phúc, Trách nhiệm, Giản dị, Tự do, Đoàn kết.
Trên cơ sở các GTS này các nước có thể xây dựng các KNS tương ứng, phù hợp với từng nước. 8 Trong suốt quá trình thực hiện chương trình giáo dục giá trị sống, phạm vi khái niệm năng lực sống đã được mở rộng dần. Ở giai đoạn cụ thể này, chương trình chi tiết kết hợp khái niệm kỹ năng sống, bao gồm nhiều kỹ năng thiết yếu khác nhau. Armin Mahmoudi & Golsa Moshayedi, trong nghiên cứu “Kỹ năng sống cho giáo dục trung học cơ sở” công bố trên “Life Science Journal, Vol 9, No.
2, 2012” [31] đã đưa ra các nhóm kỹ năng căn bản và một số giải pháp quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống. Theo họ, biện pháp tốt nhất để giáo dục kỹ năng hiểu biết bản thân và môi trường sống là tạo ra khả năng về hành vi trải nghiệm tích cực và thích nghi giúp cho các cá nhân có thể giải quyết hiệu quả các yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Nói theo cách này, KNS là vô kể; bản chất và định nghĩa về KNS cũng khác nhau tùy theo văn hóa và hoàn cảnh. Tuy nhiên phân tích về KNS trên thực tế cho thấy có một tập hợp KNS căn bản giúp trẻ em và trẻ vị thành niên phát triển tốt bao gồm 10 kỹ năng sau: 1.
Ra quyết định; 2. Giải quyết vấn đề; 3. Suy nghĩ sáng tạo; 4. Suy nghĩ tích cực: 5.
Giao tiếp hiệu quả; 6. Kỹ năng tương tác; 7. Tự nhận thức; 8. Kiểm soát với cảm xúc; 10.
Đối phó với sự căng thẳng [5, tr. Tác giả Mai Thị Oanh và cộng sự. Đề tài nghiên cứu khoa học do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thực hiện năm 2009-2010 với tên gọi “Thực trạng giáo dục kỹ năng sống ở THCS” đã đưa ra một khuyến nghị toàn diện. Nhóm nghiên cứu thống nhất kết luận rằng có 5 loại kỹ năng sống quan trọng cần được chú trọng trong giáo dục trung học cơ sở.
Những phạm trù này bao gồm kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng ra quyết định và kỹ năng làm chủ bản thân [29]. Tài liệu quý giá này cung cấp cho các nhà quản lý giáo dục những hiểu biết thiết thực về thực trạng giáo dục kỹ năng hiểu bản thân và môi trường sống cho học sinh trung học cơ sở. 9 Nghiên cứu của Lục Thị Nga tập trung vào việc mở rộng các nguồn lực sẵn có cho việc rèn luyện kỹ năng sống ở trường trung học. Ngoài ra, bà nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý các hoạt động giáo dục thúc đẩy sự tự nhận thức và môi trường sống tích cực thông qua giao tiếp hiệu quả.
Để đạt được điều này, cô nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp các hoạt động ngoại khóa [28]. Những phát hiện này cung cấp những hiểu biết có giá trị cho các nhà quản lý đang tìm cách tăng cường và đa dạng hóa cách tiếp cận của họ để tổ chức các hoạt động đó. Nguyễn Thị Huệ (2012). Kỹ năng sống của học sinh THCS, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Đại học Sư phạm Hà Nội.