CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG THỂ HIỆN CẢM XÚC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC CHO TRẺ 5 -6 TUỔI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về kĩ năng thể hiện cảm xúc trên thế giới 1. Hướng nghiên cứu Trên thế giới, lịch sử nghiên cứu về GD cảm xúc nói chung bắt nguồn từ phong trào “GD tình cảm” ở Mỹ vào những năm 1960, qua chương trình GD cảm xúc thông qua quá trình tự hiểu mình tại một trường tư thục ở San Francisco, cũng như qua công trình nghiên cứu của tác giả Walter Mischel về đánh giá năng lực chế ngự cảm xúc của trẻ em trong một nhà trẻ ở Đại học Stanford.
Trong những năm gần đây, vấn đề năng lực cảm xúc - xã hội (SEC) trong lĩnh vực giáo dục mầm non được quan tâm hơn cả trên bình diện lí luận và thực tiễn. Mục 2, Điều 3, Công ước về Quyền Trẻ em của Liên Hiệp quốc (2010) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và chăm sóc hạnh phúc cho trẻ em và trách nhiệm của các bên liên quan thông qua thỏa thuận: “Các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm trẻ em được bảo vệ và chăm sóc cần thiết vì hạnh phúc của trẻ em, có tính đến những quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, của những người giám hộ pháp lí hoặc những người khác chịu trách nhiệm về mặt pháp lí đối với trẻ em và nhằm mục đích đó sẽ thực thi tất cả mọi biện pháp pháp quy và hành chính thích hợp” [1]. Để thực hiện Luật Trẻ em (2016), ngày 17 tháng 7 năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2017/ NĐ-CP về “Môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường” [2]. Nghị định được áp dụng từ bậc học Mầm non đến các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Theo đó, môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện là môi trường đảm bảo sự đầy đủ, an toàn về cơ sở vật chất, lành mạnh, thân thiện về mặt tinh thần. Trong môi trường giáo dục đó không có bạo lực, mọi trẻ em trong trường học đều được giám sát phòng tránh nguy cơ mất an toàn và hỗ trợ về tâm lí khi cần. Từ đó, trẻ phát triển tích cực, tạo nền tảng cho sự thành công trong trường học và cuộc sống tương lai. Nghị định trên là cơ sở cho việc xác định tiêu chí đánh giá chất lượng trường mầm non, những yêu cầu về SEC của người giáo viên mầm non.
Đồng thời, là căn cứ xác định tiêu chí của SEC trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non. Các công bố gần đây hướng tới nghiên cứu về SEC của giáo viên mầm non. Buettner và cộng sự (2016) đã chỉ ra rằng: Gánh nặng tâm lí của giáo viên (bao gồm trầm cảm, căng thẳng và kiệt sức về cảm xúc) là một trong những yếu tố liên quan đến phản ứng tiêu cực của giáo viên mầm non đối với trẻ [3]. Chính vì vậy, việc giáo viên nhận diện được cảm xúc của bản thân và của người khác rất quan trọng, giúp họ có thể đưa ra những quyết định phù hợp nhằm tránh được những hành vi và thái độ không mong 7 muốn xảy ra.
Hiện nay, nhiều trường mầm non ở Mĩ, Úc, Newzeland và một số nước Châu Á - Thái Bình Dương đã coi SEC là một trong những tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp của người giáo viên mầm non. Giáo dục cảm xúc đã trở nên quan trọng và quen thuộc trong giáo án dạy học ở nhiều nước trên thế giới. Theo nghiên cứu của Đại học Quốc gia Mỹ, việc giáo dục và hỗ trợ những vấn đề cảm xúc cho trẻ ngay từ sớm giúp chúng cải thiện được phần nào bất ổn tâm lý khi bước vào giai đoạn dậy thì. Các nghiên cứu của Đại học Quốc gia Mỹ chỉ ra rằng trẻ em đang ngày càng gặp nhiều vấn đề tâm lý hơn thế hệ trước, phần lớn là vì sự phát triển quá nhanh của công nghệ 1.
Nghiên cứu về kỹ năng thể hiện cảm xúc Năm 2014, Georgia Chronaki và cộng sự đã báo cáo về nghiên cứu so sánh xu hướng xử lý và nhận dạng cảm xúc trên khuôn mặt và giọng nói ở trẻ em từ 4 đến 11 tuổi và người lớn. Những người tham gia đã xem, nghe các khuôn mặt và giọng nói (tức giận, vui vẻ và buồn bã) ở ba mức cường độ (50%, 75% và 100%). Kết quả cho thấy khả năng nhận biết cảm xúc của trẻ được cải thiện theo độ tuổi; trẻ mẫu giáo kém chính xác hơn các nhóm khác. Khả năng nhận dạng cảm xúc trên khuôn mặt đạt đến cấp độ trưởng thành khi 11 tuổi, trong khi khả năng nhận biết cảm xúc bằng giọng nói tiếp tục phát triển vào cuối thời thơ ấu.
Sự nhận biết nỗi buồn bị trì hoãn trong quá trình phát triển so với tức giận và hạnh phúc. Ngoài ra, nhận biết cảm xúc qua giọng nói hoàn thiện muộn hơn so với nhận biết cảm xúc trên khuôn mặt. Denham và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu theo chiều dọc trên 322 trẻ mầm non để xem xét nguồn gốc tự điều chỉnh của kiến thức cảm xúc và những đóng góp của kiến thức cảm xúc đối với việc điều chỉnh sớm ở trường theo độ tuổi, giới tính và mức độ rủi ro. Kiến thức và các KN về cảm xúc được nhận thấy là tiến bộ hơn ở trẻ có độ tuổi lớn hơn, những trẻ không gặp rủi ro về kinh tế và ở những trẻ có mức độ tự điều chỉnh cao hơn [63].
Cũng một nghiên cứu của Denham và cộng sự vào năm 2012, hành vi xã hội - tình cảm của 352 trẻ 3 và 4 tuổi đã được quan sát bằng cách sử dụng. Bảng kiểm các yếu tố ảnh hưởng. Kết quả cho thấy kiến thức về cảm xúc của trẻ em góp phần vào hành vi được điều chỉnh về mặt cảm xúc - xã hội sau này [64]. Trong nghiên cứu của Susanne A.
Denham và cộng sự được công bố năm 2012, chỉ ra rằng mối quan hệ chất lượng cao giữa người chăm sóc và trẻ kết hợp các phản ứng tích cực và sự hài lòng về cảm xúc có tương quan thuận với việc điều chỉnh cảm xúc của trẻ. Năng lực cảm xúc của trẻ nhỏ - điều chỉnh sự thể hiện cảm xúc và trải nghiệm khi cần thiết, cũng như hiểu biết về cảm xúc của mình và của người khác là yếu tố quan trọng đối với sự thành công trong xã hội và học tập. Cả cha mẹ và giáo viên đều được coi là những người xã hội hóa cảm xúc quan trọng, mang đến cho trẻ những trải nghiệm thúc đẩy hoặc ngăn cản sự phát triển năng lực cảm xúc[65]. Cole và cộng sự (2009) nghiên cứu trên 116 trẻ mẫu giáo, nhằm 8 đánh giá khả năng của trẻ trong việc tạo ra các chiến lược điều chỉnh cơn giận và nỗi buồn bằng lời nói.
Mối quan hệ giữa hiểu biết về chiến lược và khả năng tự điều chỉnh thực tế cũng đã được kiểm tra. Kết quả cho thấy trẻ 4 tuổi nhận ra và tạo ra các chiến lược để giải tỏa cơn giận tốt hơn trẻ 3 tuổi nhưng trẻ 3 và 4 tuổi nhận ra và tạo ra các chiến lược tương tự đối với nỗi buồn [56]. Năm 2008, trong một nghiên cứu trên 141 trẻ em 3 tuổi, Leerkes và cộng sự (2008) đã kiểm tra mức độ về cả sự hiểu biết cảm xúc và khả năng kiểm soát cảm xúc được đánh giá từ các băng video về việc trẻ em hoàn thành một số nhiệm vụ - đã dự đoán về cả thành công trong học tập và các vấn đề xã hội. Kết quả chứng minh rằng sự hiểu biết cảm xúc ở mức độ tốt hơn có liên quan đáng kể đến kết quả học tập cao hơn và khả năng kiểm soát cảm xúc mức độ tốt hơn có liên quan đáng kể đến ít vấn đề xã hội hơn [51].
Blair và Razza (2007) thực hiện nghiên cứu trên 141 trẻ em từ 3 đến 5 để xem xét vai trò của sự tự điều chỉnh đối với khả năng học tập của trẻ trong các gia đình có thu nhập thấp, kết quả đã chứng minh mối tương quan thuận giữa hầu hết các biện pháp về sự tự điều chỉnh của trẻ em trong các gia đình thu nhập thấp với các khả năng toán học và đọc viết ở trường mẫu giáo [44]. Clelland và cộng sự (2006) đã nghiên cứu trên 538 trẻ em từ lớp mẫu giáo đến lớp sáu, và kiểm tra xem trẻ em có các KN liên quan đến học tập kém trong suốt trường tiểu học về đọc và toán như thế nào. Nghiên cứu chứng minh rằng trẻ em kém năng lực cảm xúc xã hội và khả năng tự điều chỉnh sẽ gặp khó khăn hơn ở giai đoạn chuyển trường, và chúng có nhiều nguy cơ có thành tích học tập thấp, các vấn đề về cảm xúc và hành vi, bị bạn bè từ chối và bỏ học [53]. Denham và cộng sự (2003), đã thực hiện nghiên cứu theo chiều dọc trên 143 trẻ em từ 3 – 4 tuổi đến khi những trẻ em đó 5 – 6 tuổi để chứng minh mối liên hệ giữa năng lực cảm xúc và năng lực xã hội sau này.
Các kiểu biểu đạt cảm xúc, điều chỉnh cảm xúc và kiến thức về cảm xúc của trẻ đã được đánh giá. Kết quả cho thấy rằng sự tương tác của biểu hiện cảm xúc và điều tiết cảm xúc ở lứa tuổi 3 và 4 đã dự đoán đáng kể năng lực xã hội được đo lường khi trẻ em ở độ tuổi 5 – 6. Như vậy, những năng lực cảm xúc của trẻ 3 – 4 tuổi ảnh hưởng đến năng lực xã hội khi trẻ ở độ tuổi 5 – 6 [61]. Một nghiên cứu được thực hiện bởi Jones và cộng sự (2002) đã khảo sát 463 trẻ mẫu giáo trên khắp Hoa Kỳ.
Ông kết luận rằng, trẻ em có biểu hiện thiếu hụt về năng lực cảm xúc – xã hội có thể có hoặc không mắc các rối loạn tâm thần kèm theo. Trong đó, nhiều trẻ em hiện không đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn, nhưng có biểu hiện thiếu hụt nghiêm trọng về năng lực cảm xúc – xã hội so với các bạn cùng tuổi [50]. Nhiều yếu tố có thể góp phần làm cho năng lực cảm xúc xã hội bị hạn chế, bao gồm thiếu thốn hoặc chấn thương sớm, sự chăm sóc không phù hợp và sự khác biệt về văn hóa trong biểu hiện cảm xúc xã hội [56].