Chương 1 QUAN DIEM CUA CHU NGHIA MAC - LENIN VE Ý THỨC 1. Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức 1. Nguồn gốc của ý thức Khi đi vào giải thích nguồn gốc ra đời của ý thức, các nhà triết học đuy tâm cho rằng, ý thức là sản phẩm thuần tủy của lực lượng siêu nhiên, hoặc là “linh hồn” của con người. Nó là nguyên thê đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn và chi phối sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất.
Ngược lại các nhà duy vật siêu hình phủ nhận tinh chất siêu tự nhiên của ý thức, tinh thần. Quan niệm duy vật coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan của bộ não người, nhưng họ cũng cho rằng ý thức còn có thê tồn tại ở một số loài động vật cấp cao khác. Hơn nữa, họ lại lầm lẫn giữa tâm lý động vật và ý thức hoặc đồng nhất ý thức với bộ não, coi óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật. Triết học duy vật biện chứng coi ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tô chức cao là bộ não người, hoặc là “hinh ảnh chủ quan của thế giới khách quan”.
Ý thức không phải là vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tô chức cao là bộ não người. Cho nên, ý thức chỉ có ở con người và tồn tại thông qua sự hoạt động của bộ não người. Khác với vật chất là cái tồn tại khách quan, sự tồn tại của ý thức là sự tồn tại chủ quan và có khả năng phản ánh tồn tại khách quan. Vì vậy, dé hiểu đúng nguồn gốc và bản chất của ý thức cần phải xem xét nguồn gốc của ý thức trên cả hai mặt tự nhiên và xã hội 1.
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức Dựa trên những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học - thần kinh hiện đại, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khang dinh rang ý thức chỉ là thuộc tính của vật chất; nhưng không phải của mọi dạng vật chất, mà là thuộc tính ' Website trường Đại học Bách Khoa. Giới thiệu trường Dai học Bách Khoa - Đại học Quốc gia Thành phô Hồ Chí Minh. Truy cập từ https:/hemut.vn/tong-quan của một đạng vật chất sống có tô chức cao nhất là bộ óc người. Óc người là khí quan vật chất của ý thức.
Ý thức là chức năng của bộ óc người. Mối quan hệ giữa bộ óc người hoạt động bình thường và ý thức không thẻ tách rời bộ óc. Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất và con người là sản phẩm của quá trình tiễn hóa lâu dài của thế giới vật chất, từ vô cơ đến hữu cơ, từ đơn bảo đến đa bảo, từ động vật bậc thấp đến động vật bậc cao. Bộ óc là sản phâm phát triển cao nhất của vật chat co cau tao rat tinh vi, la co quan vat chất của ý thức.
Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh ly thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức của con người càng phong phủ và sâu sắc. Hoạt động ý thức chỉ điển ra trong bộ não người, trên cơ sở các quá trình sinh ly thần kinh của bộ não. Nghĩa là, ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người, do đó khi bộ óc bị tôn thương thì hoạt động của ý thức sẽ không bình thường Trái Dat hình thành trải qua quá trình tiễn hóa lâu dài dẫn đến sự xuất hiện con người. Đó cũng là lịch sử phát triển năng lực phản anh của thế giới vật chất từ thấp đến cao và cao nhất là trình độ phản ánh - ý thức.
Ý thức được hình thành nhờ có sự tác động của thế giới khách quan lên bộ óc người, tức là nhờ có môi quan hệ giữa con người với thê giới khách quan. Bởi vì, trong mối quan hệ này, thế giới khách quan được phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động lên bộ óc người và hình thành nên ý thức. Phản ảnh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh là sự tác động qua lại giữa các hệ thống vật chất.
Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ thông vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đôi) của hệ thống vật chất khác.Phản ánh quá trình phát triên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ thụ động đến chủ động, có tổ chức, điều khiển và lựa chọn đối tượng phản ánh lịch sử tiễn hóa của thế giới vật chất đồng thời là lịch sử phát triền thuộc tính phản ánh của vật chất. Giới tự nhiên vô sinh có kết cầu vật chất đơn giản, do vậy trình độ phản ánh đặc trưng của chúng là phan anh vat lý, hóa học qua những biến đôi cơ, lý, hóa dẫn đến sự thay đôi về kết cấu, vị trí, sự biến dạng và phá hủy. Đó là trình độ phản ánh mang tính thụ động, chưa có sự định hướng, lựa chọn. Phản ánh trong giới hữu sinh cao hơn, đó ' Website trường Đại học Bách Khoa.
Giới thiệu trường Dai học Bách Khoa - Đại học Quốc gia Thành phô Hồ Chí Minh. Truy cập từ https:/hemut.vn/tong-quan là sự tiên hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Hình thức thấp nhất của phản ánh sinh vật là tính kích thích, mang tính chọn lọc của thực vật, đây là hình thức phản ánh đặc trưng cho giới tự nhiên sống. Sự kích thích là phản ánh của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển thay đôi màu sắc, cau trúc., khi nhận sự tác động trong môi trường sống.
Ở động vật cấp thấp, phan anh thể hiện ở tính cảm ứng (năng lực có cảm giác) đo việc xuất hiện hệ thần kinh, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện khi có sự tác động từ môi trường lên cơ thê sống. Phản ánh tâm lý gắn liền với quá trình phản xạ có điều kiện ở động vật cấp cao có hệ thần kinh trung ương. Sự phản ánh tâm lý ở động vật cấp cao sẽ chuyền hóa thành phản ánh ý thức của con người, khi vượn chuyên hóa thành người. Tâm lý động vật là trình độ phản ánh cao nhất của các loài động vật, bao gồm cả phản xạ không có điều kiện và có điều kiện.
Tuy nhiên, tâm lý động vật chưa phải là ý thức mà đó vẫn là trình độ phản ánh mang tính bản năng của các loài động vật bậc cao, xuất phát từ nhu cầu sinh lý tự nhiên, trực tiếp của cơ thê động vật chi phối. Mặc dù ở một số loài động vật bậc cao, ngay từ bước đầu chúng đã có trí khôn, trí nhớ, đã có hướng suy nghĩ theo cách riêng của chúng, nhưng theo Ph. Ăngghen, “đó chỉ là “cái tiền sử” duy nhất gợi ý cho chúng ta tìm hiểu “bộ óc có tư duy của con người” đã ra đời như thê nào”. Bộ não người và ý thức.
Bộ não của con người hiện đại là sản phẩm tiến hóa lâu dài về mặt sinh vật - xã hội, và có cầu tạo phức tạp bao gồm 15 - 17 tỷ tế bào thần kinh có khả năng thu nhận, truyền dẫn điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thê trong quan hệ với thế giới xung quanh. Về mặt nguyên tắc ý thức của con người chỉ xuất hiện khi có sự tác động của hiện thực khách quan vào bộ não người nên năng lực phản ánh của ý thức là năng lực hoạt động của bộ não. Không thê tách ý thức ra khỏi sự hoạt động hỏa mãn nhu cầu của mình. Lao động là nguồn gốc quyết định hình thành ý thức, bởi vì lao động tạo ra của cải vat chat dam bao sự sinh tồn và phát triển của con người, đồng thời làm thay đối cầu trúc cơ thể con ' Website trường Đại học Bách Khoa.
Giới thiệu trường Dai học Bách Khoa - Đại học Quốc gia Thành phó Hỗ Chí Minh. Truy cập từ https://hemut.vn/tong-quan người, đặc biệt là làm cho các khí quan va bộ não con người ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người cũng ngày càng phát triển, nhờ vậy mà ý thức mới có thê nảy sinh. Trong quá trình lao động, con người tác động vào thê giới khách quan, làm nó bộc lộ ra những thuộc tính, những kết cầu, những quy luật vận động thành những hiện tượng nhất định, và các hiện tượng ay tac động vào bộ óc người, thông qua hoạt động của bộ não người mà hình thành nên ý thức. Ý thức với tư cách là hoạt động phản ánh sáng tạo không thẻ có được bên ngoài quá trình con người lao động làm biến đổi thế giới xung quanh.
Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động. Lao động không chỉ là nguồn gốc trực tiếp hình thành bản thân con người, mà còn hoàn thiện khả năng phản ánh của bộ não con người. Về vấn đề này, Ăngghen khăng định: “Hàng chục vạn năm - thời gian này trong lịch sử trái đất cũng tương đương như một giây đồng hỗ trong một đời người — đã trôi qua, trước khi xã hội loài người xuất hiện từ đàn vượn leo trèo trên cây. giữa đàn vượn và xã hội loài người có sự khác nhau đặc biệt gì? Đó là lao động.
Lao động bắt đầu cùng với việc chế tạo ra công cụ”. Vì thế có thể nói khái quát rằng lao động tạo ra ý thức tư tưởng, hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản ánh thể giới khách quan vào đầu óc con người trong quá trình lao động của con người. Lao động không xuất hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mang tính tập thê xã hội. Vì vậy, nhu cầu trao đôi kinh nghiệm và nhu cầu trao đối tư tưởng cho nhau xuất hiện.
Chính nhu cầu đó đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ. Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì ý thức không thê tổn tại và thê hiện được.
Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực. Nhờ ngôn ngữ mà con người tong kết được thực tiễn, trao đôi thông tm, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác.