mở đầu và kết thúc cuộc thoại. Những yếu tố này thuộc đặc trƣng mang tính dân tộc, thể hiện thói quen tiềm tàng trong cách 16 nghĩ, trong tập tục, đời sống văn hóa của cộng đồng suốt chiều dài lịch sử”. 23] Vấn đề đại từ xƣng hô trong tiếng Việt thuộc về văn hóa giao tiếp của ngƣời Việt (xƣng khiêm hô tôn) gây những khó khăn nhất định cho ngƣời học tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ. Đại từ xƣng hô trong tiếng Việt thay đổi tùy thuộc vào giới tính, tuổi tác, địa vị hoặc quan hệ xã hội.
Các từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, quan hệ xã hội kể cả đại từ xƣng hô tiếng nƣớc ngoài cũng đƣợc dùng khi tham gia hội thoại. Ở mỗi tình huống giao tiếp cụ thể, mỗi đối tƣợng giao tiếp phải tùy vào kinh nghiệm bản thân để vận dụng một cách sáng tạo các cặp từ hô - ứng, miễn sao thực hiện tốt nhất chiến lƣợc giao tiếp của mình. Hệ thống các từ xƣng hô tiếng Việt tuy phức tạp nhƣng không phải là một hệ thống khép kín mà là một hệ thống mở. Điều này phản ánh một phần đặc trƣng của văn hóa Việt Nam là tính uyển chuyển, năng động, không cứng nhắc.
Nét văn hóa đặc trƣng này đƣợc phản ánh trong ngôn ngữ không chỉ ở hệ thống từ xƣng hô mà còn đƣợc biểu hiện trong những lớp từ vựng khác của tiếng Việt. Tác giả Hồ Mỹ Huyền cho rằng, một trong những điểm nổi bật tạo nên sự khác biệt giữa nói và viết là tính nhất thời. Trong ngôn ngữ nói, ngƣời nói có thể chuyển hƣớng đề tài hoặc sửa chữa phát ngôn. Nguồn thông tin mà ngƣời nghe tiếp nhận đƣợc chỉ là nội dung tóm tắt của cuộc nói chuyện chứ không phải ghi nhớ từng chữ từng lời của ngƣời nói.
Ngay cả những ngƣời bản ngữ đôi khi cũng gặp một số khó khăn khi phải tổ chức các phát ngôn trong một thời gian tƣơng đối ngắn. Đó là những lỗi thƣờng gặp về từ vựng, cú pháp, lặp ý. Tuy vậy, ngƣời nói tiếng mẹ đẻ sẽ có ít khó khăn hơn ngƣời học ngoại ngữ. Ngƣời phát ngôn thƣờng có xu hƣớng tổ chức lời nói của mình theo quy tắc tiết kiệm.
Do thời gian ngắn và do giữa ngƣời nói và ngƣời nghe thƣờng có những hiểu biết chung nên ngƣời nói dù không nói hết thì ngƣời nghe vẫn có thể hiểu đƣợc. Do vậy ngôn ngữ nói mang trực tiếp và ít gọt giũa hơn so với ngôn ngữ viết. 17 Ngôn ngữ nói tiếng Việt thƣờng sử dụng nhiều tiểu từ tình thái nhƣ: a, à, ấy, ứ, ừ, thì, là, cái, mà, nhớ, nhỉ, nhá, nghen. Những tiểu từ này có thể bị lƣợc bỏ khi trình bày ở dạng viết.
Đây là những yếu tố làm cho ngôn ngữ nói không bị đồng nhất với ngôn ngữ viết. “Có thể nói rằng sự phong phú, đa dạng của trợ từ tình thái xuất phát từ đặc thù ngữ âm tiếng Việt và sự phân biệt nghĩa rất tinh tế trong cảm quan ngôn ngữ của ngƣời bản ngữ” [31, tr. Nếu “ừ” thông thƣờng dùng để diễn đạt nghĩa đồng thuận, khẳng định, thì “ứ” lại đƣợc sử dụng để nhấn mạnh ý nghĩa phủ định. Tính không gọt giũa của ngôn ngữ nói tiếng Việt cũng đƣợc thể hiện ở những chỗ ngắt quãng trong lời nói, chỗ ngập ngừng lúc bắt đầu, những từ ngữ có ý nghĩa ƣớc chừng hoặc thăm dò hay ở những điệp từ, điệp ngữ không có chủ ý.
Trong các văn bản nói đƣợc trình bày ở dạng viết, ngƣời đọc vẫn có thể bắt gặp những cách diễn đạt có tính tƣơng tác tiêu biểu của giao tiếp bằng lời nói. Đây cũng là một trong những cơ sở để phân biệt ngôn ngữ nói đƣợc ghi lại ở dạng viết với ngôn ngữ viết điển hình, bởi vì những cách diễn đạt này không thuộc về những đặc trƣng tiêu biểu của phong cách viết. Nhƣ vậy, có sự khác biệt lớn giữa ngôn ngữ nói và viết về mặt hình thức (chất liệu âm thanh/ chữ viết, dạng thức tồn tại hoặc kênh giao tiếp), về cấu trúc, về phong cách ngôn ngữ… nhƣng cũng không thể phủ nhận mối quan hệ không thể tách rời giữa chúng cũng nhƣ không thể vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa nói và viết. Những đặc điểm đƣợc cho là tiêu biểu cho ngôn ngữ viết không có nghĩa là không bắt gặp trong ngôn ngữ đời thƣờng và ngƣợc lại.
Chúng là những biến thể chức năng của cùng một hệ thống ngôn ngữ dùng để biểu đạt những nội dung ngữ nghĩa khác nhau.3 So sánh những đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Sự khác nhau giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là vấn đề đáng quan tâm khi sử dụng ngôn ngữ. Tuy nhiên, không có sự đối lập tuyệt đối giữa chúng. Trong “Bài giảng Phong cách học thực hành tiếng Việt”, tác giả Lê Thị Minh Hằng cho rằng các phong cách nói và viết đều có ảnh hƣởng qua lại với nhau, những từ ngữ hay cách diễn đạt ở phong cách này có thể xuất hiện ở phong cách kia, và ngƣợc lại. Nhƣng phong cách nói xuất hiện trong phong cách viết là những từ ngữ, cách diễn đạt đã đƣợc chọn lọc, sắp xếp một cách có chủ ý để tạo đƣợc hiệu ứng riêng.
Trên cơ sở đó, chúng tôi xin đƣợc đƣa ra những so sánh về đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nhƣ sau: 1.1 So sánh đặc điểm của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói tiếng Việt trên bình diện ngữ âm Nhờ những đặc trƣng ngữ âm mà ngƣời sử dụng ngôn ngữ có thể phân biệt đƣợc các từ và hiểu đƣợc nội dung giao tiếp. Một số ngôn ngữ có xuất hiện hiện tƣợng nối âm, biến đổi phụ âm hoặc thậm chí lƣợc bỏ âm tiết mặc dù những hiện tƣợng này không đƣợc ghi lại trong ngôn ngữ viết. Chẳng hạn nhƣ, đối với những từ bắt đầu bằng một nguyên âm, nếu từ liền trƣớc tận cùng bằng một phụ âm, khi nói, phụ âm liền trƣớc sẽ kết hợp với nguyên âm liền sau. Ví dụ: từ 한국어 (tiếng Hàn) han guk o, nhƣng khi phát âm thì k sẽ kết hợp với o tạo thành cách phát âm [han- guko].
Hiện tƣợng nối âm này không đƣợc ghi nhận trong tiếng Việt. Hầu hết những sự biến đổi về hình thức trong phƣơng ngữ đều xuất phát từ sự biến đổi ngữ âm học và âm vị học. Biến đổi ngữ âm là sự biến đổi đều đặn, xảy ra đồng loạt đối với tất cả các từ có chứa nguyên âm hoặc phụ âm. Biến đổi ngữ âm thƣờng xảy ra theo quy luật tiết kiệm và đơn giản hóa những cách phát âm khó.
Biến đổi âm vị học là sự biến đổi không đều đặn, chỉ xuất hiện ở một số từ, âm vị mới lần lƣợt thay thế âm vị cũ: ă và â, thày giáo (phƣơng ngữ nam bộ), thầy giáo (phƣơng ngữ bắc bộ)… Tuy nhiên một số trƣờng hợp khác lại có giá trị khu biệt nghĩa trong cả hai phƣơng ngữ này: xay – xây, thay - thây… Có một khoảng cách 19 lớn về mặt âm so với cách thể hiện bằng chữ giữa các phƣơng ngữ. Đây cũng là một trong những khác biệt cơ bản trong việc sử dụng lời nói và chữ viết: chữ viết mang tính xã hội cao hơn lời nói miệng. Khi tiếp xúc với một ngƣời nói một phƣơng ngữ khác, ngƣời nghe tự động chuyển hóa mã ngôn ngữ vùng mà họ nghe đƣợc sang mã ngôn ngữ toàn dân để có thể hiểu đƣợc phát ngôn. Trong khi ngôn ngữ viết hƣớng tới sự thể hiện chuẩn mực chung của toàn xã hội, ngôn ngữ nói chứa đựng tập quán ngôn ngữ của một nhóm xã hội ở một địa phƣơng nhất định, thể hiện những thói quen ngôn ngữ mang tính cá thể cao.
Bởi vì, ngôn ngữ nói đƣợc phát ra bởi một ngƣời nói cụ thể, với đặc điểm riêng về chất giọng và ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.2 So sánh đặc điểm của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói trên bình diện từ ngữ 1.1 Quán ngữ Mỗi ngôn ngữ có các quán ngữ riêng. Trong tiếng Việt có các quán ngữ đã đƣợc mặc định cho phong cách nói trong ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày nhƣ Của đáng tội, Khí vô phép, Khổ một nỗi là, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói dại đổ đi, Còn mồ ma, Nó chết (một) cái là, Nói (.) bỏ quá cho, Cắn rơm cắn cỏ, Chẳng nước non gì, Đùng một cái, Nói trộm bóng vía,. Cùng với các quán ngữ, thành ngữ và tục ngữ cũng góp phần tạo nên lời ăn tiếng nói của nhân dân: liệu cơm gắp mắm, lời ăn lỗ chịu, rày đây mai đó, trời sinh voi sinh cỏ, còn nước còn tát, bằng mặt chứ không bằng lòng. Thành ngữ, tục ngữ và các nhóm từ ngữ có yếu tố Hán – Việt đƣợc sử dụng trong lời thoại cải lƣơng, trong tuồng cổ, hoặc trong lời nói có ý ví von, so sánh, đúc kết kinh nghiệm.
hoặc khi nói về tín ngƣỡng, về đạo lý làm ngƣời: mẹ tròn con vuông, ba chìm bảy nổi, tham phú phụ bần, trai tài gái sắc, tùy cơ ứng biến, xuất giá tòng phu. 20 Về mặt tổ chức văn bản, các quán ngữ trong ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói đều thể hiện rõ chức năng liên kết, tạo mốc đánh dấu văn bản nhƣ báo hiệu mở đầu, chuyển ý, chuyển sang phần tiếp theo hoặc phần kết, giúp ngƣời đọc nhận hiểu văn bản một cách rõ ràng. Các quán ngữ có xuất xứ từ ngôn ngữ nói đƣợc tái hiện trong ngôn ngữ viết hầu hết chỉ tập trung ở thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu phẩm báo chí. Mỗi phong cách ngôn ngữ đều có quán ngữ riêng nhƣng vẫn có những quán ngữ mang sắc thái trung hòa có thể xuất hiện trong cả văn nói và văn viết.3 Từ ngữ thông tục Trong tiếng Việt có một nhóm từ khá đặc biệt: từ ngữ thông tục.
Đây là nhóm từ hầu nhƣ chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ nói, ở những cuộc thoại không nghi thức; thậm chí ngay cả trong hội thoại hàng ngày, không phải ai cũng có thể và có thói quen sử dụng chúng; nhóm từ ngữ này lại rất thuần Việt và mang đậm phong cách ngôn ngữ cá nhân của ngƣời sử dụng. Xuất hiện trƣớc tiên ở một địa phƣơng nào đó trƣớc khi lan truyền sang những địa phƣơng khác. Có khi chỉ tồn tại ở một phạm vi hẹp nào đó rồi rơi vào quên lãng, có khi đƣợc nhiều ngƣời ƣa chuộng. Từ ngữ thông tục không chỉ bao gồm những từ ngữ có phần “thô tục”, mà cả những từ ngữ ƣa dùng trong ngôn ngữ nói sinh hoạt hàng ngày.
Ví dụ: cà kê dê ngỗng, mất sổ gạo, búa xua, tùm lum.