Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ 1. Một số vấn đề lý luận về giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù 1. Khái niệm giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù Để nắm đƣợc sâu sắc về nội dung của chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, trƣớc hết cần xuất phát từ việc làm rõ những khái niệm liên quan. Cụ thể, ngƣời nghiên cứu cần đƣa ra đƣợc câu trả lời cho câu hỏi thế nào là hình phạt, hình phạt tù cũng nhƣ nội hàm của các khái niệm này.
Dƣới góc độ khoa học pháp lý, đã có nhiều định nghĩa, khái niệm tƣơng đối đầy đủ về “hình phạt”, trong đó có thể kể tới một số khái niệm đƣợc thừa nhận phổ biến: Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế Nhà nƣớc nghiêm khắc nhất đƣợc quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính ngƣời đã thực hiện tội phạm nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng nhƣ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [16, tr. Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc đƣợc quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tƣớc bỏ hay hạn chế quyền, tự do của ngƣời bị kết án theo các quy định của pháp luật về hình sự [4, tr. Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc của Nhà nƣớc, đƣợc quy định trong luật hình sự do Tòa án quyết định áp dụng đối với ngƣời phạm tội và đƣợc thể hiện ở việc tƣớc bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của họ nhằm giáo dục, cải tạo họ trở 9 z thành ngƣời có ích cho xã hội, không phạm tội mới, giáo dục mọi công dân có ý thức tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [37, tr. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra đƣợc những nội dung mang tính bản chất của hình phạt, chỉ ra đƣợc các đặc điểm hình phạt, căn cứ để áp dụng hình phạt, hậu quả pháp lý của hình phạt và mục đích hƣớng tới của hình phạt.
Dƣới góc độ pháp luật, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng đã đƣa ra khái niệm về hình phạt, tạo căn cứ pháp lý cho việc triển khai các quy định khác về hình phạt cũng nhƣ áp dụng hình phạt trong thực tiễn. Theo đó: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” [24, Điều 26]. Qua nghiên cứu những khái niệm về nêu trên, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của hình phạt nhƣ sau: - Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc của Nhà nƣớc.
- Hình phạt là sự thống nhất giữa trừng trị và cải tạo giáo dục ngƣời phạm tội. - Hình phạt gắn liền với tội phạm. - Hình phạt đƣợc luật hình sự quy định. - Hình phạt do Tòa án quyết định áp dụng đối với cá nhân ngƣời phạm tội.
Từ các đặc điểm trên, có thể thấy, hình phạt là công cụ Nhà nƣớc bảo đảm cho luật hình sự thực hiện đƣợc nhiệm vụ bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng nhất thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, chống các hành vi phạm tội, giáo dục mọi ngƣời có ý thức tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Theo luật hình sự hiện hành, hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình 10 z phạt bổ sung. Nếu nhƣ các hình phạt bổ sung chỉ đóng vai trò hỗ trợ nhằm đảm bảo, tăng cƣờng hiệu quả của việc áp dụng hình phạt thì hình phạt chính đóng vai trò chủ đạo, thể hiện rõ nét nhất các đặc điểm của hình phạt. Hình phạt chính theo quan điểm của luật hình sự Việt Nam [24, Điều 28] bao gồm: - Hình phạt cảnh cáo.
- Hình phạt tiền. - Hình phạt trục xuất. - Hình phạt cải tạo không giam giữ. - Hình phạt tù có thời hạn.
- Hình phạt tù chung thân. - Hình phạt tử hình. Qua lịch sử của hình phạt cho thấy, hình phạt tù là một trong những loại hình phạt phổ biến, truyền thống nhất. Hình phạt tù là loại hình phạt có lịch sử lâu đời, hiện có mặt trong pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Hình phạt tù tƣớc bỏ quyền tự do, cách ly ngƣời phạm tội khỏi đời sống xã hội, buộc họ phải chấp hành hình phạt trong các cơ sở giam giữ tập trung do Nhà nƣớc quản lý. Theo tính chất, mức độ nghiêm khắc của hình phạt tù mà luật hình sự Việt Nam chia hình phạt này thành tù có thời hạn và tù chung thân. Luật Hình sự Việt Nam năm 1999 có quy định cụ thể về khái niệm đối với hai loại hình phạt chính này. Theo đó: Tù có thời hạn là việc buộc ngƣời bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định [24, Điều 33].
Tù chung thân là hình phạt tù không có thời hạn đƣợc áp dụng đối với ngƣời phạm tội trong những trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng nhƣng chƣa đến mức bị xử phạt tử hình [24, Điều 34]. Theo quan niệm của luật hình sự Việt Nam, thời hạn của hình phạt tù không phải là bất biến đối với mỗi phạm nhân sau khi lĩnh án. Thời hạn của 11 z hình phạt tù dù là tù có thời hạn hay tù chung thân (không có thời hạn) thì cũng chỉ là mức mà Tòa án tiên lƣợng rằng cần thiết để trừng phạt và giáo dục, cải tạo ngƣời phạm tội. Trong quá trình ngƣời phạm tội chấp hành hình phạt, nếu nhận thấy ở ngƣời đó những biểu hiện cho thấy không cần thiết áp dụng toàn bộ thời hạn tù theo tiên lƣợng ban đầu tại bản án, Tòa án có thể ra quyết định giảm thời hạn chấp hạn hình phạt tù đối với họ.
Hoạt động này của Tòa án đƣợc pháp luật hiện hành nhìn nhận với tên gọi “giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù”. Đây cũng là nội dung chính mà luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích và làm rõ. Trong hệ thống pháp luật hình sự cũng nhƣ trong khoa học luật hình sự Việt Nam, do ít đƣợc quan tâm nghiên cứu nên hiện nay vẫn còn rất ít những công trình nghiên cứu mang tính chuyên ngành về các biện pháp miễn, giảm hình phạt nói chung và biện pháp giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù nói riêng. Chính vì vậy, trong nhận thức về vấn đề này còn chƣa có đƣợc những tƣ tƣởng, quan điểm mang tính chính thống.
Trong các văn bản hƣớng dẫn luật, trong các ấn phẩm báo chí trƣớc đây cũng nhƣ trong quan niệm dân gian hay sử dụng những thật ngữ nhƣ “ân xá”, “ân giảm”, “tha bổng”, “tha trƣớc thời hạn”…. Hiện nay, phổ biến các tác giả vẫn còn hay sử dụng những thuật ngữ nhƣ “các chế định tha, miễn”; “các biện pháp tha, miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt”… Kể từ khi Bộ luật Hình sự đầu tiên đƣợc ban hành năm 1985, các nhà làm luật đã thống nhất sử dụng thuật ngữ “miễn và giảm hình phạt” (chƣơng VI) và tới Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì đã có những quy định rõ ràng về các biện pháp miễn, giảm chấp hành hình phạt tại chƣơng VIII: “thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt”. Mặc dù vậy, thế nào là các biện pháp miễn, giảm chấp hành hình phạt cũng nhƣ đặc điểm, vai trò của các biện pháp trên nhƣ 12 z thế nào thì vẫn còn là những vấn đề bị bỏ ngỏ. Tới nay, có rất ít các học giả quan tâm nghiên cứu, đƣa ra đƣợc các khái niệm về những nội dung này.
Một trong số đó, là quan điểm đƣợc thừa nhận phổ biến hiện nay của GS.TSKH Lê Cảm về các biện pháp miễn, giảm hình phạt trong luật hình sự. Theo ông, các biện pháp miễn, giảm hình phạt trong luật hình sự “là quy phạm (hoặc chế định) mang tính chất nhân đạo, phản ánh sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội và được cơ quan tư pháp có thẩm quyền áp dụng chỉ trong một số trường hợp nhất định khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định” [11, tr. Trên tinh thần thừa nhận các nội dung chung về khái niệm các biện pháp miễn, giảm hình phạt trong luật hình sự, PGS.TS Trịnh Quốc Toản đã đƣa ra khái niệm chuyên sâu hơn về các biện pháp miễn, giảm chấp hình phạt nhƣ sau: Các biện pháp miễn, giảm hình phạt với tƣ cách là những thể thức thực hiện trách nhiệm hình sự, biểu hiện rõ nét tính nhân đạo sâu sắc của luật hình sự và đƣờng lối khoan hồng trong chấp hành hình phạt, đƣợc cơ quan chức năng áp dụng khi có đủ các căn cứ và điều kiện do luật quy định [37, tr. Khái niệm trên đã khái quát và bao hàm đầy đủ cả 04 đặc điểm chung của các biện pháp miễn, giảm chấp hành hình phạt là (1) quy phạm (hoặc chế định) mang tính chất nhân đạo; (2) phản ánh sự khoan hồng của Nhà nƣớc đối với ngƣời phạm tội; (3) đƣợc các cơ quan tƣ pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng; (4) đƣợc áp dụng khi có đầy đủ các căn cứ và điều kiện do luật hình sự quy định [37, tr.
Từ khái niệm và các đặc điểm trên, có thể nhận thấy, dƣới góc độ thi hành án hình sự, miễn chấp hành hình phạt và giảm mức chấp hành hình phạt có mối quan hệ tƣơng đồng về bản chất pháp lý. Mặc dù vậy, giữa miễn chấp 13 z hành hình phạt và giảm mức chấp hành hình phạt vẫn có những khác biệt cơ bản thể hiện đặc thù của hai chế định độc lập. Sự khác biệt thể hiện ở một số khía cạnh nhƣ sau: - Ngƣời đƣợc miễn chấp hành hình phạt có thể là ngƣời chƣa chấp hành hình phạt hoặc đang đƣợc hoãn chấp hành hình phạt, ngƣời đang chấp hành hình phạt hoặc ngƣời đang đƣợc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt. Ngƣời đƣợc giảm mức chấp hành hình phạt phải là ngƣời đang chấp hành hình phạt.
- Miễn chấp hành hình phạt làm chấm dứt việc chấp hành hình phạt trong khi giảm mức chấp hành hình phạt về cơ bản sẽ chỉ làm rút ngắn thời hạn chấp hành của hình phạt có thời hạn hoặc giảm hết việc chấp hành phần còn lại của hình phạt không có thời hạn.