phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu 4 chương và 14 tiết. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Quan tâm nghiên cứu những vấn đề pháp lý trong hoạt động giám sát của NHNN nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong lĩnh vực ngân hàng tài chính trong bài viết “Level the playing field: The new supervision of credit institutions by the European Central Bank” [99] của các tác giả Thomas Voland, Benedikt Wolfers đã chỉ ra những sự đổi mới trong giám sát đối với các TCTD của ngân hàng trung ương ở Châu Âu nhằm tạo lập môi trường bình đẳng trong hoạt động ngân hàng. Vào tháng 10 năm 2013, Cơ chế Giám sát Đơn lẻ (SSM) được thành lập.
Cơ chế mới này, dựa trên Quy chế SSM, cung cấp các nhiệm vụ và quyền hạn sâu rộng cho ECB trong việc giám sát các TCTD được thành lập tại các Quốc gia Thành viên tham gia. Trong bài viết “Cross Border Banking Supervision: Incentive Conflicts in Supervisory Information Sharing between Home and Host Supervisors” [96] của tác giả Katia D'Hulster tập trung nghiên cứu những kinh nghiệm trong phối hợp chia sẻ thông tin giữa các cơ quan giám sát của các quốc gia trên thế giới trong xu hướng hợp tác quốc tế. Tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã phát hiện ra một số điểm yếu trong việc giám sát và điều tiết của các ngân hàng xuyên biên giới. Một trong những điểm yếu đó là sự thiếu hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan giám sát ngân hàng (GSNH).
Trong bài viết này tác giả đã 7 nghiên cứu và chỉ ra những khó khăn, thách thức đối với việc chia sẻ thông tin giám sát xuyên biên giới giữa các quốc gia. Cuốn “Formalization of Banking Supervision 19th-20th Centuries” [90] của các tác giả Eiji Hotori, Mikael Wendschlag, Thibaud Giddey chỉ ra những nỗ lực đầu tiên nhằm xây dựng giai đoạn chính thức hóa hoạt động GSNH ở tám quốc gia phát triển - Mỹ, Nhật Bản, Thụy Điển, Đức, Thụy Sĩ, Bỉ, Pháp và Anh. Nghiên cứu này đã chỉ ra những lý do trong lĩnh vực lịch sử GSNH xác định lý do tại sao lịch sử quốc gia về GSNH có những điểm tương đồng, nhưng cũng vẫn khác biệt và phụ thuộc nhiều vào con đường. Cuốn sách này không chỉ được các nhà sử học tài chính, kinh tế quan tâm, mà còn cả những độc giả nói chung quan tâm đến GSNH như: sinh viên, chủ ngân hàng, giám sát viên và các quan chức quốc tế.P [93] đã bàn về những tác động của chính sách tiền tệ đến giám sát của Ngân hàng trung ương.
Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hoá những vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của NHNN trong đó đặc biệt quan tâm bàn đến mức độ can thiệp của NHNN. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra rằng: ngân hàng trung ương ở các quốc gia có kinh tế phát triển có vai trò tác động gián tiếp hoặc có vai trò định hướng cho hoạt động của các NHTM. Nghiên cứu chỉ ra vai trò chiến lược của hoạt động GSNH, bài viết “18 The Supervisory Role of the Central Bank” [98] của tác giả Pierre Duquesne đã chỉ ra rằng: GSNH là cần thiết vì vai trò chiến lược mà các ngân hàng thực hiện trong nền kinh tế: trung gian, chuyển đổi kỳ hạn, tạo và quản lý các phương tiện thanh toán và cho vay. Phân tích lý thuyết hiện đại xác định hai dịch vụ đặc biệt quan trọng mà các ngân hàng thực hiện, đó là cung cấp thông tin và đảm bảo tính thanh khoản.
Phân tích về giám sát của ngân hàng trung ương cho thấy sự đa dạng về cách tiếp cận cả về lý thuyết và thực tiễn giữa các quốc gia. Không có 8 lập luận thuyết phục nào ở cấp độ lý thuyết ủng hộ quan điểm, dường như phổ biến hiện nay, rằng cơ quan GSNH nên hoàn toàn độc lập với cơ quan quản lý tiền tệ. Ở cấp độ thực tiễn và thể chế, các hệ thống của các quốc gia khác nhau hoạt động theo các nguyên tắc rất khác nhau nhưng vẫn tỏ ra có hiệu quả. Tuy nhiên, từ quan điểm thực tế, không thể phủ nhận rằng, với khuôn khổ văn hóa và chính trị ở nhiều quốc gia (đặc biệt là các quốc gia mới nổi), việc giao quyền GSNH cho một bộ phận đặc biệt của ngân hàng trung ương có thể được xem xét, ít nhất là trong thời gian đầu, giai đoạn này, như là cách hiệu quả nhất để giải quyết ba yêu cầu cơ bản: độc lập khỏi các áp lực chính trị, phối hợp chính sách tiền tệ và GSNH.
Trong cuốn “Banking Soundness and Monetary Policy” [97] là sự tổng hợp các các bài báo được biên tập bởi Charles Enoch và John H. Green được trình bày tại Hội thảo lần thứ bảy về Ngân hàng Trung ương do IMF tài trợ. Một số bài viết đã nghiên cứu có hệ thống và phân tích làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương trong các vấn đề về lành mạnh của ngân hàng và tái cơ cấu ngân hàng. Ở Việt Nam, nghiên cứu và chỉ ra những nguyên tắc cơ bản, một số vấn đề pháp lý trong hoạt động giám sát của NHNN được các tác giả nghiên cứu và chỉ rõ trong các công trình sau: “25 nguyên tắc GSNH theo Basel 2 và việc tuân thủ của Việt Nam” [5]; “Một số nguyên tắc cơ bản để GSNH có hiệu quả” [16]; “Một số điểm mới của Luật NHNN năm 2010 về thanh tra, GSNH” [7];… Trong bài viết “25 nguyên tắc GSNH theo Basel 2 và việc tuân thủ của Việt Nam” [5] tác giả Hạ Thị Thiều Dao nghiên cứu có hệ thống về 25 nguyên tắc của Basel 2 về GSNH, đồng thời đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng mức độ tuân thủ mỗi nguyên tắc đó ở Việt Nam qua các quy 9 định pháp lý về TTGS được thể hiện trong Luật NHNN, Luật các TCTD và những văn bản pháp quy khác đang có hiệu lực đã được NHNN Việt Nam ban hành.
Bài viết “Một số điểm mới của Luật NHNN năm 2010 về thanh tra, GSNH” [7] tác giả Nguyễn Công Dương giới thiệu khái quát những quy định mới về công tác tổ chức, mục đích, nguyên tắc hoạt động, đối tượng xử lý. và sự phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, GSNH theo Luật NHNN Việt Nam năm 2010. Tác giả cũng nêu ra một số vấn đề pháp lý có liên quan cần tập trung giải quyết để Luật có hiệu lực từ 01/01/2011. Trong luận án “Hoạt động giám sát của ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với ngân hàng thương mại” [27] của tác giả Nguyễn Thị Minh Huệ đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động giám sát của ngân hàng Trung ương đối với NHTM.
Một số tác giả quan tâm tới các chính sách của ngân hàng nhằm đảm bảo chức năng giám sát an toàn hệ thống vĩ mô, vi mô như: “NHNN Việt Nam với chính sách giám sát an toàn vĩ mô” [30] của tác giả Tô Ngọc Hưng; “Tăng cường giám sát đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam” [11] của tác giả Đoàn Thanh Hà; “Thanh tra, GSNH và nhiệm vụ đảm bảo an toàn, lành mạnh hệ thống” [39] của tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa; “Vai trò quan trọng của GSNH trong ổn định tài chính” [70] trích bài phát biểu của Nout Wellink-Chủ tịch Uỷ ban Basel về GSNH tại Hội nghị cấp cao: Vai trò của ngân hàng và GSNH trong ổn định tài chính-ngày 17/11/2008 tại Bắc Kinh- Trung Quốc. Báo cáo giới thiệu 3 vấn đề lớn: Về những nguyên nhân cơ bản của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay và những bài học kinh nghiệm rút ra; Về các chính sách ứng phó của Uỷ ban Basel đối với cuộc khủng hoảng này trong đó nhấn mạnh đến các 10 công cụ; Tăng cường dự trữ vốn và kiểm soát rủi ro, nâng cao chất lượng vốn. và các biện pháp hỗ trợ đi cùng. Một số bài viết quan tâm nghiên cứu giám sát rủi ro của NHNN như “Xây dựng khung quản lý rủi ro hoạt động hướng tới GSNH trên cơ sở rủi ro” [40] của Nhóm nghiên cứu Quản trị rủi ro hoạt động, ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nêu một số vấn đề chung về quản lý rủi ro (QLRR) hoạt động ngân hàng; Giới thiệu các công cụ QLRR để các TCTD có thể áp dụng; Chỉ rõ những khó khăn trong công tác QLRR ở TCTD Việt Nam, nêu khái quát sự chỉ đạo và hỗ trợ từ NHNN đối với các TCTD về QLRR hoạt động.
Nhờ đó đã làm rõ hoạt động thanh tra, GSNH nhằm mục đích đảm bảo một TCTD (TCTD) thực hiện hoạt động tín dụng, ngân hàng tuân theo quy định, chính sách pháp luật của nhà nước. Nâng cao hiệu quả hoạt động GSNH trên cơ sở QLRR, công trình đã đề xuất việc xây dựng khung QLRR hoạt động hướng tới GSNH trên cơ sở rủi ro, từ đó góp phần phát hiện và hạn chế những rủi ro, đảm bảo an toàn hệ thống tài chính. Tác giả Nguyễn Thị Hoà [17] đã nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận về TTGS các TCTD trên cơ sở rủi ro. Đồng thời, luận án nghiên cứu và phân tích những kinh nghiệm các nước trong việc áp dụng phương pháp TTGS trên cơ sở rủi ro đối với các TCTD, từ đó phân tích làm sáng tỏ những bài học trong hoàn thiện hệ thống TTGS của NHNN Việt Nam hiện nay.
Đề tài khoa học “Ứng dụng phương pháp Gauss-Seidel trong xây dựng mô hình giám sát an toàn hoạt động ngân hàng tại Cơ quan Thanh tra, GSNH” [45] của tác giả Trần Đăng Phi và Nguyễn Phi Lân đã tổng quan về các phương pháp xây dựng mô hình định lượng phục vụ công tác giám sát an toàn hoạt động ngân hàng được xây dựng bởi các ngân hàng trung ương, tổ chức GSNH trên thế giới cũng như phương pháp luận xây dựng các mô hình định lượng này.