CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO 1. QUAN NIỆM VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO 1. Quan niệm về nghèo và hộ nghèo a. Quan niệm của một số tổ chức quốc tế ðói nghèo và chống ñói nghèo luôn là mối quan tâm hàng ñầu của tất cả các quốc gia trên thế giới, bởi vì giàu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của ñất nước.
ðói nghèo thường gây ra xung ñột chính trị, xung ñột giai cấp, dẫn ñến bất ổn về xã hội, bất ổn về chính trị. Tình trạng ñói nghèo ở mỗi quốc gia ñều có sự khác nhau về cấp ñộ và số lượng. Bởi vậy, ñể nhìn nhận và ñánh giá ñúng tình trạng ñói nghèo của một quốc gia, một vùng cũng như nhận dạng ñược hộ nghèo, ñòi hỏi chúng ta phải có sự thống nhất về khái niệm và các tiêu chí ñể ñánh giá nghèo tại từng thời ñiểm. Hiện nay chưa có ñịnh nghĩa duy nhất về nghèo và chưa có một sự thống nhất tuyệt ñối trong quan niệm về nghèo.ðầu những năm 70, ñói nghèo chỉ ñược coi là sự ñói nghèo về tiêu dùng, với tư tưởng cốt lõi và căn bản nhất ñể một người bị coi là nghèo ñói ñó là sự "thiếu hụt" so với mức sống nhất ñịnh.
Mức thiếu hụt này ñược xác ñịnh theo các chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian và thời gian. Trong báo cáo phát triển con người năm 1997, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) ñã ñề cập ñến khái niệm ñói nghèo về năng lực, khác với quan niệm ñói nghèo về thu nhập. Theo ñó, “nghèo khổ của con người là khái niệm biểu thị sự nghèo khổ ña chiều của con người - là sự thiệt thòi (khốn cùng) theo 3 khía cạnh cơ bản nhất của cuộc sống con người”. Trong khi ñó, Ngân hàng Thế giới thì ñưa ra quan ñiểm: “Nghèo là một khái niệm ña chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất.
Nghèo không 9 chỉ dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn ñề liên quan ñến năng lực như: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”. Cho ñến nay, khái niệm nghèo ñược dùng nhiều nhất là khái niệm ñã ñược ñưa ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo ñói do Ủy ban Kinh tế & Xã hội của Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok – Thái Lan, quan niệm này ñược phát biểu như sau: “Nghèo ñói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình ñộ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy ñược xã hội thừa nhận” [16, tr.ðây là khái niệm tương ñối ñầy ñủ và bao quát, nên có thể coi ñây là ñịnh nghĩa chung nhất và có tính hướng dẫn về phương pháp nhận diện nét chính yếu phổ biến về ñói nghèo của các quốc gia. ðây là khái niệm ñược nhiều nước trên thế giới sử dụng trong ñó có Việt Nam. Quan niệm của Việt Nam Các nhà nghiên cứu và quản lý ở nước ta thừa nhận và sử dụng khái niệm nghèo ñói do Uỷ ban Kinh tế- xã hội khu vực châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) ñưa ra.
Bên cạnh ñó, còn có một số khái niệm liên quan như hộ nghèo, hộ tái nghèo, xã nghèo, vùng nghèo. - Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau một quá trình thực hiện chương trình Xoá ñói giảm nghèo cuộc sống ñã khá lên và mức thu nhập ñã ở trên chuẩn nghèo. - Hộ tái nghèo: Là hộ vốn dĩ trước ñây thuộc hộ nghèo và ñã vượt nghèo nhưng do nguyên nhân nào ñó lại rơi vào cảnh ñói nghèo. Ý nghĩa của khái niệm này là phản ánh tính vững chắc hay tính bền vững của các giải pháp xoá ñói giảm nghèo.
- Hộ nghèo mới hay là hộ mới vào danh sách nghèo: Là những hộ ở 10 ñầu kỳ không thuộc danh sách hộ nghèo nhưng ñến cuối kỳ lại là hộ nghèo. Như vậy, hộ mới bước vào danh sách hộ nghèo bao gồm những hộ như sau: Hộ nghèo chuyển từ nơi khác ñến; hộ nghèo tách hộ; hộ trung bình khá vì một lý do nào ñó lại trở thành hộ nghèo hoặc hộ tái nghèo. ðể phân biệt rõ hơn nữa quan niệm về ñói nghèo, các nước ñã phân làm hai loại: Nghèo tuyệt ñối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nghèo tương ñối: là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng ñồng tại ñịa phương.
Quan niệm về giảm nghèo Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm. Nói một cách khác, giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít ñiều kiện lựa chọn sang tình trạng có ñầy ñủ ñiều kiện lựa chọn hơn ñể cải thiện ñời sống mọi mặt của mỗi người.
Nói giảm nghèo trong ñó luôn bao hàm xóa ñói và cũng giống như khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo chỉ là tương ñối. Bởi nghèo có thể tái sinh mỗi khi quan niệm nghèo và chuẩn nghèo thay ñổi. Hoặc có những biến ñộng khác tác ñộng ñến như: khủng hoảng, lạm phát, thiên tai vv.Vì vậy, việc ñánh giá mức ñộ giảm nghèo cần ñược xem xét trong một không gian và thời gian nhất ñịnh. Nghèo ñói ñi liền với lạc hâu, chậm phát triển là trở ngại lớn ñối với phát triển.
Trong thời ñại mở cửa, giải quyết vấn ñề giảm nghèo càng trở nên bức xúc. Bởi vì mở cửa gắn liền với việc giao lưu với các nước, hoà nhập với bên ngoài, các nước nghèo, chậm phát triển sẽ gặp nhiều bất lợi trong quan hệ 11 kinh tế. Giảm nghèo là cơ sở ñể duy trì cho sự ổn ñịnh về chính trị xã hội. Do vậy giảm nghèo có vai trò rất quan trọng ñối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững ở nước ta hiện nay.
Như vậy, ñói nghèo là một trong những nguyên nhân ñang trực tiếp ñe dọa ñến sự tồn vong và phát triển của loài người. Do ñó, giảm nghèo ñóng một vai trò hết sức to lớn trong tất cả các mặt của ñời sống xã hội, cụ thể như sau: - Giảm nghèo ñối với sự phát triển kinh tế Nghèo ñói ñi liền với lạc hậu, do ñó giảm nghèo là tiền ñề cho sự phát triển kinh tế vì khi ñói nghèo giảm sẽ giảm ñi những áp lực từ bên trong tạo ñiều kiện thuận lợi cho ñầu tư bên ngoài, làm năng lực kinh tế phát triển vững chắc. Ngược lại sự phát triển kinh tế là nhân tố ñảm bảo cho sự thành công trong công tác giảm nghèo. - Giảm nghèo ñối với sự phát triển xã hội Việc thực hiện xoá ñói giảm nghèo có ý nghĩa quan trọng không những ñối với sự phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa quan trọng ñối với sự phát triển của xã hội.
ðể làm nổi bật những cản trở của nghèo ñói ñối với sự phát triển xã hội các nhà kinh tế ñưa ra lý thuyết về cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo ñói. Phương pháp xác ñịnh chuẩn nghèo a. Khái niệm về chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là công cụ ñể phân biệt người nghèo và người không nghèo. Hầu hết chuẩn nghèo ñược tính dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu.
Những người ñược coi là nghèo khi mức sống của họ ño qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn mức tối thiểu chấp nhận ñược, tức là thấp hơn chuẩn nghèo. Những người có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chuẩn này là người không nghèo hoặc ñã vượt nghèo, thoát nghèo. 12 Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn ñể ño lường mức ñộ nghèo của các hộ dân tại Việt Nam. Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế giới, nó là công cụ ñể ño lường và giám sát nghèo ñói.
Một thước ño nghèo ñói tốt sẽ cho phép ñánh giá tác ñộng các chính sách của Chính phủ tới nghèo ñói, cho phép ñánh giá nghèo ñói theo thời gian, tạo ñiều kiện so sánh với các nước khác, và giám sát chi tiêu xã hội theo hướng có lợi cho người nghèo. - Chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo áp dụng trong giai ñoạn 2011 – 2015 ñược quy ñịnh tại Quyết ñịnh số 09/2011/Qð-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ Tướng Chính phủ, cụ thể như sau: + Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 ñồng/người/tháng (từ 4.000 ñồng/người/năm) trở xuống. + Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 ñồng/người/tháng (từ 6.000 ñồng/người/năm) trở xuống. + Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 ñồng/người/tháng.
+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 ñồng/người/tháng. - Chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo áp dụng trong giai ñoạn 2016 – 2020 ñược quy ñịnh tại Quyết ñịnh số 59/2015/Qð-TTg ngày 19/11/2015 về việc Ban hành chuẩn nghèo tiếp cận ña chiều áp dụng cho giai ñoạn 2016 - 2020, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/01/2016, cụ thể như sau: + Các tiêu chí tiếp cận ño lường nghèo ña chiều áp dụng cho giai ñoạn 2016-2020 Các tiêu chí về thu nhập Chuẩn nghèo: 700.000 ñồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 ñồng/người/tháng ở khu vực thành thị. 13 Chuẩn cận nghèo: 1.000 ñồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 ñồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Tiêu chí mức ñộ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin.
Các chỉ số ño lường mức ñộ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình ñộ giáo dục của người lớn; tình trạng ñi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân ñầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. + Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai ñoạn 2016-2020 Hộ nghèo Khu vực nông thôn: là hộ ñáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân ñầu người/tháng từ ñủ 700.000 ñồng trở xuống; Có thu nhập bình quân ñầu người/tháng trên 700.