Luận văn: Chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào Chăm ở Phú Nhuận

Luận văn nghiên cứu chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào Chăm tại Q. Phú Nhuận, TPHCM. Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giảm nghèo bền vững cho người Chăm tại Phú Nhuận

Chương trình giảm nghèo bền vững cho người Chăm tại quận Phú Nhuận, TP.HCM là một minh chứng sống động cho nỗ lực thực thi chính sách dân tộc. Dựa trên phương pháp tiếp cận đa chiều, chương trình không chỉ tập trung vào thu nhập mà còn cải thiện toàn diện các dịch vụ xã hội cơ bản, góp phần nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng người Chăm trong bối cảnh đô thị hóa.

1.1. Phác họa đời sống cộng đồng người Chăm tại quận Phú Nhuận

Quận Phú Nhuận là nơi sinh sống của một cộng đồng người Chăm đáng kể, với 864 tín đồ Hồi giáo tính đến tháng 10/2020, chủ yếu tập trung tại phường 15 và 17. Đa số là người Chăm gốc Châu Đốc (An Giang) đến định cư từ những năm 1960. Đời sống cộng đồng người Chăm ban đầu chủ yếu dựa vào lao động phổ thông và buôn bán nhỏ lẻ, thu nhập không ổn định. Tuy nhiên, những năm gần đây, nhờ chính sách mở cửa, một bộ phận đã chuyển sang các hoạt động kinh doanh dịch vụ phục vụ du khách Hồi giáo như mở nhà hàng Halal, buôn bán lễ phục, làm hướng dẫn viên du lịch. Sự thay đổi này đã góp phần cải thiện kinh tế nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Về văn hóa, cộng đồng duy trì các sinh hoạt tôn giáo tại Thánh đường Hồi giáo và giữ gìn ngôn ngữ, phong tục tập quán riêng. Vai trò chính quyền địa phương thể hiện rõ qua việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, định hướng hoạt động tôn giáo theo phương châm “sống tốt đời, đẹp đạo”, tạo điều kiện để bảo tồn bản sắc văn hóa Chăm song song với phát triển kinh tế.

1.2. Nền tảng chính sách dân tộc tại TP.HCM và cách tiếp cận mới

TP.HCM là địa phương tiên phong trong công tác xóa đói giảm nghèo, với chương trình được khởi xướng từ năm 1992. Giai đoạn 2016-2020 đánh dấu một bước đột phá với việc áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg. Chính sách dân tộc tại TP.HCM được cụ thể hóa qua Nghị quyết số 15/2015/NQ-HĐND, không chỉ dựa vào thu nhập (dưới 21 triệu đồng/người/năm, sau điều chỉnh lên 28 triệu) mà còn xét đến 5 chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh, và thông tin. Cách tiếp cận này giúp xác định chính xác hơn các vấn đề của hộ nghèo, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó đưa ra các giải pháp hỗ trợ trúng đích. Đây là cơ sở để quận Phú Nhuận triển khai các mô hình giảm nghèo đô thị đặc thù, đảm bảo quá trình giảm nghèo diễn ra một cách bền vững và toàn diện.

II. Thách thức lớn trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho người Chăm

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, công tác giảm nghèo bền vững cho người Chăm tại Phú Nhuận vẫn đối mặt với không ít thách thức. Các rào cản về sinh kế, nguy cơ tái nghèo trong môi trường đô thị, cùng với những khó khăn trong việc cân bằng giữa hòa nhập xã hội và bảo tồn văn hóa đòi hỏi những giải pháp căn cơ và đồng bộ hơn.

2.1. Rào cản phát triển sinh kế bền vững và nguy cơ tái nghèo

Một trong những thách thức lớn nhất là việc phát triển sinh kế bền vững. Phần lớn người Chăm vẫn làm các công việc tự do, thu nhập bấp bênh. Trình độ học vấn và tay nghề hạn chế khiến họ khó tiếp cận các cơ hội việc làm chất lượng cao trong khu vực kinh tế chính thức. Mặc dù có các chính sách hỗ trợ vay vốn, việc sử dụng vốn để tạo ra sinh kế ổn định, lâu dài vẫn là một bài toán khó. Bên cạnh đó, áp lực chi phí sinh hoạt tại một quận trung tâm như Phú Nhuận rất cao, khiến các hộ vừa thoát nghèo rất dễ tái nghèo khi gặp các cú sốc về sức khỏe hoặc mất việc làm. Một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên, đòi hỏi công tác tuyên truyền, vận động cần được đẩy mạnh hơn nữa để khơi dậy ý chí tự lực.

2.2. Khó khăn trong hòa nhập xã hội và bảo tồn bản sắc văn hóa Chăm

Việc hòa nhập xã hội cho người Chăm đi đôi với bảo tồn bản sắc văn hóa Chăm là một thách thức kép. Sinh hoạt khép kín trong cộng đồng giúp họ giữ gìn được phong tục, tập quán, ngôn ngữ, nhưng cũng có thể tạo ra những rào cản trong việc tiếp cận thông tin và các dịch vụ xã hội rộng rãi. Thế hệ trẻ người Chăm đứng trước áp lực phải hòa nhập với xã hội hiện đại, đồng thời phải gìn giữ di sản văn hóa của dân tộc. Các chính sách hỗ trợ cần được thiết kế tinh tế để vừa khuyến khích phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, vừa tạo không gian để văn hóa Chăm và phát triển kinh tế song hành. Nếu không có sự quan tâm đúng mức, bản sắc văn hóa độc đáo có nguy cơ bị mai một trong quá trình đô thị hóa, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của chính cộng đồng.

III. Phương pháp tạo việc làm và phát triển kinh tế cho người Chăm

Để giải quyết các thách thức về sinh kế, quận Phú Nhuận đã triển khai nhiều giải pháp trọng tâm nhằm tạo đòn bẩy kinh tế. Các chính sách này tập trung vào việc cung cấp nguồn vốn, đào tạo nghề và xây dựng các mô hình kinh doanh phù hợp, giúp đồng bào Chăm nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống một cách lâu dài.

3.1. Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ vốn và đào tạo nghề nghiệp

Chính sách tín dụng ưu đãi là công cụ then chốt trong việc tạo việc làm cho người dân tộc. Thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ Xóa đói giảm nghèo, nhiều hộ gia đình Chăm đã được tiếp cận nguồn vốn để sản xuất, kinh doanh. Giai đoạn 2016-2020, quận đã giới thiệu cho 73 trường hợp vay vốn với tổng số tiền 463 triệu đồng. Song song với hỗ trợ vốn, công tác đào tạo nghề được chú trọng. Trung tâm Dạy nghề quận đã phối hợp khảo sát nhu cầu và tổ chức các lớp học phù hợp như lái xe, trang điểm, may mặc. Đặc biệt, mô hình “Tổ hợp may người Chăm” đã phát huy hiệu quả, tạo việc làm tại chỗ cho phụ nữ. Sự kết hợp giữa vốn và đào tạo nghề đã giúp nhiều lao động Chăm chuyển đổi từ công việc phổ thông sang các ngành nghề có thu nhập ổn định hơn, góp phần trực tiếp vào mục tiêu giảm nghèo bền vững.

3.2. Xây dựng các mô hình kinh tế gắn liền với văn hóa đặc thù

Nhận thấy tiềm năng từ bản sắc văn hóa, quận đã khuyến khích các mô hình kinh tế gắn liền với đặc trưng của cộng đồng. Việc phát triển các nhà hàng, quán ăn phục vụ ẩm thực Halal không chỉ đáp ứng nhu cầu của du khách Hồi giáo mà còn tạo ra một sản phẩm du lịch độc đáo. Các cửa hàng bán trang phục truyền thống, đồ lưu niệm cũng là một hướng đi hiệu quả. Những mô hình này cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa văn hóa Chăm và phát triển kinh tế. Bằng cách biến di sản văn hóa thành tài sản kinh tế, người dân không chỉ có thêm thu nhập mà còn có thêm động lực để gìn giữ và quảng bá văn hóa dân tộc. Đây là hướng đi quan trọng để đảm bảo phát triển sinh kế bền vững, tránh sự phụ thuộc vào các công việc thời vụ, bấp bênh.

IV. Bí quyết cải thiện toàn diện các dịch vụ xã hội cơ bản

Để giảm nghèo một cách bền vững, việc cải thiện thu nhập phải đi đôi với nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Quận Phú Nhuận đã thực hiện một loạt chính sách đồng bộ, tác động trực tiếp vào các chiều thiếu hụt về giáo dục, y tế và nhà ở, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau.

4.1. Giải pháp đột phá trong hỗ trợ giáo dục và chăm sóc sức khỏe

Trong lĩnh vực giáo dục, quận đã thực hiện miễn giảm học phí cho 100% học sinh Chăm, cấp hàng trăm suất học bổng và hỗ trợ chi phí học tập. Theo Báo cáo của UBND quận Phú Nhuận, năm học 2019-2020, 770 suất học bổng trị giá 1,31 tỷ đồng đã được trao. Về y tế, 100% thành viên hộ nghèo, cận nghèo người Chăm được cấp thẻ BHYT miễn phí hoặc hỗ trợ chi phí. Quỹ Vì người nghèo đã hỗ trợ 30% kinh phí mua thẻ BHYT cho 2.430 thành viên hộ cận nghèo. Các chương trình khám sức khỏe sinh sản, tiêm chủng mở rộng cũng được triển khai thường xuyên. Những chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số này đã trực tiếp kéo giảm các chỉ số thiếu hụt trong mô hình giảm nghèo đô thị đa chiều, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và sức khỏe cộng đồng về lâu dài.

4.2. Nỗ lực đảm bảo nhà ở và điều kiện sống thiết yếu cho người dân

Nhà ở là một trong những nhu cầu cấp thiết nhất tại đô thị. Quận Phú Nhuận đã tập trung nguồn lực từ Quỹ Vì người nghèo và vận động xã hội hóa để hỗ trợ nhà ở. Trong 5 năm, quận đã xây mới 22 căn nhà tình thương, sửa chữa 11 căn, và hỗ trợ lắp đặt hệ thống điện, nước sạch cho hàng chục hộ gia đình. Cụ thể, 10 điện kế và 33 đồng hồ nước đã được lắp đặt, đảm bảo 100% hộ Chăm được tiếp cận các dịch vụ cơ bản này. Các chính sách này không chỉ cải thiện điều kiện sống trước mắt mà còn tạo nền tảng ổn định để các hộ gia đình yên tâm lao động sản xuất. Việc đảm bảo an sinh xã hội cho người Chăm thông qua các chương trình nhà ở và cải thiện môi trường sống thể hiện rõ quyết tâm của chính quyền trong việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo một cách thực chất.

V. Phân tích kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo giai đoạn 2016 2020

Giai đoạn 2016-2020 ghi nhận những kết quả ấn tượng trong công tác giảm nghèo bền vững cho người Chăm tại Phú Nhuận. Các số liệu thực tiễn và bài học kinh nghiệm được rút ra là cơ sở quan trọng để hoàn thiện chính sách trong giai đoạn tiếp theo, khẳng định vai trò lãnh đạo của hệ thống chính trị và sự nỗ lực của cả cộng đồng.

5.1. Những con số biết nói về tỷ lệ thoát nghèo của người Chăm

Kết quả thực hiện chương trình rất đáng khích lệ. Đến tháng 10/2020, quận Phú Nhuận được công nhận hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo theo chuẩn thành phố giai đoạn 2019-2020. Đối với cộng đồng dân tộc thiểu số, 14/14 hộ nghèo đã vượt chuẩn, 17/27 hộ cận nghèo vượt chuẩn. Riêng cộng đồng người Chăm, số hộ cận nghèo chỉ còn 8 hộ với 35 nhân khẩu. Thu nhập bình quân đầu người của các hộ trong diện chính sách đã tăng lên đáng kể, nhiều hộ đạt trên 40 triệu đồng/người/năm vào năm 2020, vượt xa chuẩn nghèo. Đây là thành quả của sự nỗ lực không mệt mỏi của cả hệ thống chính trị và nhân dân quận Phú Nhuận, minh chứng cho hiệu quả của mô hình giảm nghèo đô thị khi được triển khai một cách quyết liệt và đồng bộ.

5.2. Vai trò của chính quyền địa phương và bài học kinh nghiệm

Vai trò chính quyền địa phương là yếu tố quyết định thành công. Quận ủy, UBND quận đã thể hiện quyết tâm chính trị cao thông qua việc ban hành các nghị quyết, kế hoạch cụ thể và phân công trách nhiệm rõ ràng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể, đặc biệt là Ủy ban MTTQ, đã huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội. Một bài học kinh nghiệm quan trọng là việc tổ chức đối thoại trực tiếp với người nghèo, giúp nắm bắt chính xác nhu cầu và khơi dậy ý thức tự vươn lên. Bên cạnh đó, việc lồng ghép chính sách dân tộc tại TP.HCM với các phong trào thi đua yêu nước đã tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ. Công tác giám sát, kiểm tra thường xuyên đã đảm bảo các chính sách được thực thi minh bạch, hiệu quả, đúng đối tượng.

04/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào chăm trên địa bàn quận phú nhuận thành phố hồ chí min

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO CHĂM 1. Một số khái niệm liên quan đề tài 1. Nghèo, nghèo đô thị, nghèo đa chiều * Nghèo: diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian.

Một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme) của quốc gia. Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương. Ở Việt Nam (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội), nghèo là một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng của từng vùng, từng khu vực xét trên mọi phương diện. Nghèo là một vấn đề xã hội, là tình trạng yếu kém về chất lượng sống của những cộng đồng, gia đình, cá nhân này so với mức trung bình của xã hội.

Nghèo khổ thường gắn liền với tình trạng bất bình đẳng do bị phân biệt đối xử, sự tách biệt với cộng đồng, thiếu thốn tài nguyên hay khả năng dễ bị tổn thương bởi những tác động của sự biến đổi môi trường sống. Như vậy khái niệm nghèo có thể sử dụng để mô tả ở cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng trong tình trạng sự khốn cùng về vật chất, dẫn tới tình trạng yếu kém về chất lượng sống. Đi kèm với nghèo khổ là hàng loạt vấn đề xã hội phát sinh như: suy giảm tình trạng sức khỏe, bất ổn trong đời 8 sống tinh thần và tình cảm, khả năng tiếp cận giáo dục thấp, dễ bị tổn thương và hàng loạt những vấn đề khác. * Nghèo đô thị: Người nghèo đô thị về cơ bản được chia làm 2 nhóm là nhóm dân nghèo tại chỗ và nhóm người nghèo nhập cư.

Dân nghèo tại chỗ: là nhóm người “lõi”, đang gặp nhiều bất lợi, đặc biệt về vấn đề nguồn lực. Thiếu học vấn và tay nghề, người nghèo tại chỗ thường làm trong khu vực phi chính thức, thu nhập không ổn định, thiếu khả năng chuyển đổi sinh kế, thiếu vốn xã hội, hạn chế trong tiếp cận dịch vụ công. Bên cạnh nhóm nghèo sở tại và các gia đình nghèo lâu dài thì còn có một nhóm nghèo mới xuất hiện gắn với quá trình chuyển đổi từ nông dân thành thị dân. Người nghèo nhập cư: Người di cư nghèo ngụ cư tại đô thị không được xem xét trong các chương trình giảm nghèo hàng năm.

Họ phải chịu bất lợi đặc thù do chi phí sinh hoạt cao, thiếu hòa nhập xã hội tại khu vực đô thị, họ phải dành dụm, tiết kiệm để có tiền gửi về nhà nên hạn chế trong việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cá nhân. * Nghèo đa chiều: Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức độ tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Hộ nghèo và chuẩn nghèo Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập (chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập) và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin). Ngày 15 tháng 9 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020” theo đó: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; xây dựng mức sống tối thiểu để từng bước bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân, trước mắt áp dụng chuẩn nghèo chính sách để phân loại đối tượng hộ nghèo, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách, cụ thể như sau: 9 * Hộ nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

* Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu, và thiếu hụt dưới 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Ngày 19 tháng 11 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020), quy định các tiêu chí về thu nhập như sau: * Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. * Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. * Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin.

Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Việc ban hành mức chuẩn nghèo mới và xác định những căn cứ để đo lường, giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân chính là cơ sở để thực hiện các chính sách giảm nghèo và ASXH bền vững, cũng như hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016 – 2020. Trên cơ sở các quy định chung được áp dụng trên phạm vi cả nước về GNBV, TPHCM đã xây dựng nhiều văn bản để cụ thể hóa việc thực hiện chính sách, phù hợp với tình hình thực tiễn của mình. Cụ thể vào ngày 09 tháng 12 năm 2015, HĐND TPHCM đã ban hành Nghị quyết số 15/2015/NQ-HĐND về Chương 10 trình GNBV của TPHCM giai đoạn 2016 – 2020), chỉ rõ các tiêu chí xác định hộ nghèo và cận nghèo như sau: * Hộ nghèo thành phố: Là những hộ dân thành phố (có hộ khẩu thường trú và tạm trú KT3) có 1 hoặc cả 2 tiêu chí và được chia theo 3 nhóm hộ để tổ chức thực hiện các chính sách tác động hỗ trợ giảm nghèo.

Tiêu chí xác định hộ nghèo thành phố Tiêu chí Hộ nghèo nhóm 1 Hộ nghèo nhóm 2 Hộ nghèo nhóm 3 Thu nhập bình Từ 21 triệu Từ 21 triệu Trên 21 triệu quân đầu người đồng/người/năm đồng/người/năm đồng/người/năm (không trở xuống trở xuống nghèo thu nhập) Tổng số điểm Từ 40 điểm trở lên Dưới 40 điểm (từ 0 Từ 40 điểm trở lên thiếu hụt của 5 đến 35 điểm) chiều nghèo (Nguồn: HĐND TPHCM (2015), Nghị quyết số 15/2015/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2015 về Chương trình GNBV của TPHCM giai đoạn 2016 – 2020) * Hộ cận nghèo thành phố: là những hộ dân thành phố (có hộ khẩu thường trú và tạm trú KT3) có 2 tiêu chí về thu nhập và tổng số điểm thiếu hụt. Tiêu chí xác định hộ cận nghèo thành phố Tiêu chí Hộ cận nghèo Thu nhập bình quân đầu người Từ trên 21 triệu đồng/người/năm đến 28 triệu đồng/người/năm Tổng số điểm thiếu hụt của 5 chiều nghèo Dưới 40 điểm (từ 0 đến 35 điểm) (Nguồn: HĐND TPHCM (2015), Nghị quyết số 15/2015/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2015 về Chương trình GNBV của TPHCM giai đoạn 2016 – 2020) 1. Về chính sách giảm nghèo * Chính sách giảm nghèo: là tất cả các giải pháp chính sách của Nhà nước và xã hội hay của chính đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách, chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. * Giảm nghèo bền vững: là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của 11 người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, tạo điều kiện cho hộ nghèo bằng các chính sách cụ thể để họ có thu nhập và cuộc sống ổn định, lâu dài thoát nghèo và không tái nghèo.

Chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc * Dân tộc: Hiện nay, khái niệm dân tộc được sử dụng trong các văn kiện chính trị, văn bản pháp luật hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: Theo nghĩa thứ nhất, “dân tộc” được hiểu là “tộc người”. Với nghĩa này, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng người có các đặc trưng cơ bản về ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng có tính bền vững qua sự phát triển lâu dài của lịch sử. Ví dụ: dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Si La, dân tộc Ba Na, dân tộc Chăm. Hiểu theo nghĩa này, kết cấu dân cư của một quốc gia có thể bao gồm nhiều dân tộc (tộc người) khác nhau, trong đó có những dân tộc chiếm đa số trong thành phần dân cư và có những dân tộc thiểu số.

Trong quá trình phát triển của mình, trong bản thân mỗi dân tộc có thể có sự phân chia thành các nhóm người có những đặc điểm khác nhau về nơi cư trú, văn hoá, lối sống, phong tục tập quán, nhưng đều được coi là cùng một dân tộc, bởi có chung 3 điểm đặc trưng của một dân tộc như nói trên đây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ