Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢM HÌNH PHẠT ĐÃ TUYÊN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và bản chất pháp lý của chế định giảm hình phạt đã tuyên 1. Khái niệm hình phạt Trong lĩnh vực khoa học hình sự, tội phạm và hình phạt thuộc những đối tượng nghiên cứu chủ yếu và quan trọng nhất, trong đó việc làm sáng tỏ khái niệm hình phạt là một vấn đề quan trọng trong lý luận khoa học hình sự. Khi nói về hình phạt, Các Mác đã viết: “Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm của các điều kiện tồn tại của nó” [20, tr.
Mác đã khẳng định hình phạt mang tính phổ biến, tính giai cấp và tính lịch sử. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác khẳng định: nếu như tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật thì hình phạt xuất hiện là để “trừng trị” tội phạm, bảo vệ quyền lợi, duy trì điều kiện tồn tại của giai cấp thống trị, của Nhà nước trong bất kỳ chế độ xã hội nào. Dù là chế độ xã hội nào từ khi xuất hiện Nhà nước cho đến chế độ dân chủ, văn minh thì Nhà nước luôn coi hình phạt là công cụ hữu hiệu để bảo vệ các lợi ích của xã hội, của Nhà nước. Do đó có thể nói hình phạt là biện pháp nghiêm khắc nhất, được áp dụng phổ biến và có lịch sử lâu đời nhất.
Lịch sử hình thành và phát triển của hình phạt trong khoa học luật hình sự có rất nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên tựu trung lại thì hình phạt có hai quan điểm thể hiện như sau: Thứ nhất, thời kỳ trung cổ thì quan điểm “nợ máu phải trả bằng máu”, nên hình phạt trong giai đoạn lịch sử này mang đặc điểm là công cụ trả thù, trừng phạt người phạm tội, nên hình phạt mang tính dã man, tàn khốc, được biểu hiện ở kiểu Nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến. Thứ hai, thời kỳ dân chủ và văn minh, hình phạt mang tư tưởng tiến bộ hơn, thể hiện đặc điểm của hình phạt là công cụ đấu tranh, phòng ngừa tội phạm và nhằm 9 mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm, cho nên hình phạt không còn mang tính hà khắc, dã man và sự trả thù. Mục đích của hình phạt là hạn chế và đi đến triệt tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, tiến tới hạn chế và loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, khái niệm về hình phạt có rất nhiều ý kiến, những quan điểm luận giải khoa học về khái niệm hình phạt đều có những hạt nhân hợp lý, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về hình phạt, thể hiện có nhiều quan điểm khác nhau về hình phạt, đó là: “Biện pháp cưỡng chế do Tòa án quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền lợi ích do luật quy định đối với người bị kết án” [42, tr.
194]; “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của Luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm” [3, tr. 24], hoặc “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong các bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự [12, tr. Có thể nói hình phạt là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, nhưng tùy giai đoạn lịch sử cụ thể, chế độ kinh tế-xã hội của mỗi Nhà nước khác nhau thì việc áp dụng hình phạt cũng khác nhau. Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam ngoài sự nghiêm khắc bằng biện pháp cưỡng chế thì hình phạt còn mang nội dung giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm, thể hiện được tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa với nhiệm vụ: “Điều quan trọng là chúng ta phải quy định hình phạt làm sao để bản thân nó có tính giáo dục, cải tạo người phạm tội… Điều cần thiết là làm sao để chức năng tái hòa nhập người phạm tội vào cộng đồng xã hội được nhận thức là chức năng chủ yếu của hình phạt và việc thực hiện chức năng này phải khác với việc thực hiện chức năng giáo dục đơn giản và 10 thứ yếu của sự trừng phạt thích đáng mà những người theo trường phái kinh điển mới hiện đại đã nêu ra” [1, tr.
Trong pháp luật hình sự Việt Nam, từ giai đoạn Cách mạng Tháng Tám đến trước khi pháp điển hóa lần thứ hai BLHS năm 1999, khái niệm về hình phạt chưa được các nhà làm luật đưa vào mà chỉ quy định mục đích hình phạt, đó là: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm” [23, tr. Đến giai đoạn pháp điển hóa lần thứ hai trở về sau thì khái niệm về hình phạt mới được các nhà làm luật phát triển, ghi nhận về mặt lập pháp tại Điều 26 BLHS năm 1999 “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định.
Khi thực hiện pháp điển hóa lần thứ ba BLHS năm 2015 thì một chủ thể đặc biệt của tội phạm được ghi nhận đó là pháp nhân thương mại, nhưng pháp nhân thương mại không phải là chủ thể của mọi tội phạm, mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm có liên quan trực tiếp đến hoạt động của pháp nhân thương mại và được Luật hình sự quy định. Việc bổ sung quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại trong BLHS năm 2015 đã thay đổi các quan điểm khoa học về cơ sở trách nhiệm hình sự, năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi, hình phạt và hiện nay được định nghĩa tại Điều 30 BLHS năm 2015: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” [33, tr. Dựa trên các định nghĩa khoa học cũng như định nghĩa pháp lý về khái niệm hình phạt trong luật hình sự hiện nay, chúng ta có thể khái quát chung nhất về đặc điểm của hình phạt đó là: 11 Một là, là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước. Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở hệ quả áp dụng hình phạt là sự tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích hợp pháp quan trọng nhất được Hiến pháp ghi nhận của cá nhân hoặc tổ chức pháp nhân phạm tội, đó là sự tự do, quyền sống, quyền kinh tế, quyền chính trị.v… Hai là, Hình phạt phải được quy định trong BLHS hay nói cách khác BLHS là nguồn của hình phạt.
Nếu những hành vi xâm phạm đến trật tự xã hội, đến lợi ích của Nhà nước, của công dân nhưng không hoặc chưa được pháp luật hình sự ghi nhận thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, có nghĩa là họ cũng không gánh chịu về hình phạt, mà hành vi của họ chỉ phải chịu các biện pháp cưỡng chế ít nghiêm khắc của Nhà nước được các quan hệ pháp luật khác điều chỉnh. Ba là, Hình phạt chỉ do Tòa án quyết định áp dụng khi tuyên bản án kết tội đối với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại, tức là khi hành vi của cá nhân hoặc pháp nhân thương mại xâm phạm đến những trật tự xã hội, đến lợi ích của Nhà nước, của công dân, tổ chức và bị Tòa án thừa nhận là tội phạm bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp được Hiến pháp ghi nhận, nhằm trừng trị cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi được coi là tội phạm, thể hiện thái độ lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm. Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [24, tr.
Do đó, chỉ duy nhất ngoài Tòa án, thì không có bất kỳ một cơ quan nào khác, kể cả các cơ quan tiến hành tố tụng khác như Cơ quan điều tra, cơ quan Viện kiểm sát, hoặc cơ quan hành chính Nhà nước khác được quyền kết án và áp dụng hình phạt đối với họ. Điều này thể hiện tính thận trọng, khách quan của Nhà nước trong đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, đồng thời bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và quan trọng nhất là bảo đảm quyền con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, phù hợp với Công ước 12 quốc tế về quyền chính trị, dân sự; quyền kinh tế, văn hóa và Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 mà Việt Nam là thành viên. Bốn là, chủ thể bị áp dụng hình phạt chỉ bao gồm cá nhân và pháp nhân thương mại, tuy nhiên, pháp nhân thương mại chỉ được xem là chủ thể của tội phạm của một số hành vi nhất định. Với phương châm “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục.”, “khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng, hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội” [38, tr.
Xét về bản chất thì hình phạt thể hiện các mục đích chính đó là trừng trị và cải tạo, giáo dục cá nhân, pháp nhân thương mại ý thức chấp hành và tuân thủ pháp luật.