Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI THAM Ô TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản 1. Khái niệm tội tham ô tài sản Tham ô tài sản có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể là một hiện tượng tiêu cực xã hội, tệ nạn xã hội hay là hành vi vi phạm pháp luật. Theo từ điển tiếng Việt tham ô là:“Lợi dụng chức quyền hạn hoặc chức trách để ăn cắp của công” [52, tr.
Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là ăn cắp của công thành của tư; đục khoét của Nhân dân; ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm của riêng cho địa phương mình, đơn vị mình cũng là tham ô. Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là ăn cắp của công, khai gian lậu thuế”. Tội tham ô tài sản là tội phạm được Nhà nước ta quy định từ rất sớm. Giai đoạn trước Bộ luật Hình sự 1985 và Bộ luật Hình sự 1999, tội tham ô tài sản đã được đề cập đến lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 223–SL ngày 27 tháng 11 năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành được xem là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên về tội tham ô tài sản.
Sau khi Bộ luật Hình sự năm 1985 được ban hành thì tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 133 với tội danh: “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” thuộc Chương các tội phạm xâm phạm sở hữu. Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 278, thuộc Chương XXI Chương các tội phạm về chức vụ. Tội tham ô tài sản được quy định như sau: “1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu 6 đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai đến bảy năm.
Gây hậu quả nghiêm trọng; b. Đã bị kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; c. Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại các khoản 2, khoản 3, khoản 4 của Điều này.
Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 353 thuộc Chương XXIII. Các tội phạm về chức vụ, tội tham ô tài sản được quy định như sau: “1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ 2.000 đồng hoặc dưới 2.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Như vậy cả hai bộ luật hình sự đều nhất quán chủ thể của tội tham ô tài sản phải là người có chức vụ và quyền hạn, họ đã lợi dụng chức vụ và quyền hạn đó để chiếm giữ tài sản bất hợp pháp bằng nhiều cách khác nhau với mục đích chính là chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Người phạm tội thực hiện hành vi này với lỗi cố ý trực tiếp với mục đích là vụ lợi, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan của Nhà nước các tổ chức xã hội khác. Tội tham ô tài sản luôn có yếu tố là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do chính mình có trách nhiệm quản lý bằng nhiều cách khác nhau. Các dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý duy nhất và là cơ sở thực tế để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người thực hiện hành vi chứa đựng các yếu tố cấu thành tội phạm. Cũng như bất kì loại tội phạm nào, tội tham ô tài sản được cấu thành bởi bốn yếu tố: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm.
Khách thể của tội tham ô tài sản Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính giai cấp của pháp luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng, khẳng định: “Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ và bị tội phạm xâm hại” [36, tr. Điều 352, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định khái niệm về tội phạm chức vụ là: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”. Đối với tội tham ô tài sản thì hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về khách thể của tội phạm này: - Ý kiến thứ nhất cho rằng: Khách thể trực tiếp của tội tham ô tài sản là quan hệ sở hữu còn khách thể loại là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. - Ý kiến thứ hai cho rằng: Khách thể của tội tham ô tài sản chắc chắn là quyền sở hữu của Nhà nước.
- Ý kiến thứ ba cho rằng: Khách thể của tội tham ô tài sản là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quan hệ sở hữu tài sản [31, tr. Trong ba ý kiến trên theo tác giả thì ý kiến thứ ba “Khách thể của tội tham ô tài sản là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quan hệ sở hữu tài sản” thì đây là quan điểm phù hợp, đầy đủ và cũng là dấu hiệu về khách thể mà Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội tham ô tài sản. 8 Như vậy ý kiến này có phần đầy đủ khi xác định khách thể của tội tham ô tài sản hơn vì nó bao gồm các hành vi như xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và sở hữu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội. Vì những lý do sau đây: - Lý do thứ nhất, tội tham ô tài sản xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
Tội tham ô tài sản nằm trong Chương XXIII các tội phạm về chức vụ thuộc Mục 1 các tội phạm tham nhũng như: Tội nhận hối lộ; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công cụ; tội lạm quyền khi thi hành công vụ; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; tội giả mạo trong công tác làm ảnh đến uy tín của cơ quan, tổ chức. Theo Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định về các cơ quan, tổ chức bao gồm: Cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước. Tham ô tài sản gây nguy hiểm nghiêm trọng nhất đến hoạt động đúng đắn và uy tín của các cơ quan, tổ chức đây là khách thể quan trọng và cơ bản để từ đó có thể phân biệt với các tội phạm khác có cùng hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không trực tiếp xâm hại đến các hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. Việc xác định chính xác khách thể sẽ góp phần xác định tội danh trong việc điều tra, truy tố và xét xử tội phạm về chức vụ.
- Lý do thứ hai, tội tham ô tài sản xâm hại đến quan hệ sở hữu cơ quan Nhà nước, quan hệ sở hữu. Theo Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì đối tượng tác động là tài sản đặc biệt, tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của người có chức vụ, quyền hạn. Tính hợp pháp thể hiện ở chỗ quyền năng quản lý đó được quy định trong pháp luật hoặc điều lệ của cơ quan, tổ chức. Người có trách nhiệm quản lý tài sản và lợi dụng trách nhiệm đó để chiếm đoạt tài sản 9 mình quản lý bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp giá trị chiếm đoạt phải định giá được từ 2.000 đồng trở lên thì sẽ cấu thành tội tham ô tài sản.
Nếu người chiếm đoạt tài sản không có trách nhiệm quản lý tài sản nhưng lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản của người khác thì sẽ cấu thành tội phạm khác về chức vụ như: Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội nhận hối lộ; tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản… Tài sản mà người phạm tội chiếm đoạt nếu có giá trị dưới 2.000 đồng thì phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: Đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, đã bị kết án một trong các quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Việc “đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm” đó là trường hợp người phạm tội đã có hành vi tham ô trước đó và đã bị xử lý kỷ luật như: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương… mà vẫn còn thực hiện hành vi tham ô tài sản trị giá dưới 2. Trường hợp “đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” như vậy đó là trường hợp người phạm tội đã bị Tòa án kết tội về các tội danh sau đây: Tội nhận hối lộ; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; tội lạm quyền khi thi hành công vụ; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; tội giả mạo trong công tác. Người phạm tội chưa được xóa án tích về các tội danh nêu trên mà vẫn tiếp tục có hành vi tham ô tài sản có giá trị dưới 2.000 đồng thì cấu thành về tội tham ô tài sản.