Tội Tham Ô Tài Sản Theo Pháp Luật Hình Sự Việt Nam Từ Thực Tiễn Tỉnh Long An

Tìm hiểu về tội tham ô tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Long An, phân tích và đánh giá các trường hợp cụ thể.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2018

93
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI THAM Ô TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản

1.2. Phân biệt tội tham ô tài sản với một số tội phạm khác

1.3. Lịch sử phát triển các quy định về tội tham ô tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

2.1. Khái quát về tình hình xét xử tội tham ô tài sản trên địa bàn tỉnh Long An

2.2. Thực tiễn định tội danh đối với tội tham ô tài sản trên địa bàn tỉnh Long An

2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản trên địa bàn tỉnh Long An

2.4. Nhận xét và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội tham ô tài sản trên địa bàn tỉnh Long An

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI THAM Ô TÀI SẢN

3.1. Dự báo, những yếu tố tác động đến tình hình tội tham ô tài sản

3.2. Giải pháp hoàn thiện và áp dụng pháp luật hình sự đối với tội tham ô tài sản

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tội Tham Ô Tài Sản Tại Long An

Công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo đã đạt thành tựu to lớn. Việt Nam hội nhập quốc tế. Bên cạnh thành tựu, tệ nạn xã hội gia tăng, nhất là tội phạm tham nhũng, tham ô tài sản, trở thành quốc nạn. Tội phạm tham ô tài sản đe dọa sự phát triển đất nước, gây rào cản thực hiện chủ trương, chính sách, giảm uy tín quốc gia, ảnh hưởng môi trường kinh doanh. Kinh tế thị trường tiềm ẩn khả năng tham ô lớn. Thực tiễn cho thấy, tội tham ô tài sản gia tăng với quy mô, mức độ phức tạp cao. Các vụ án lớn gần đây cho thấy tính chất, quy mô, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Việc điều tra, truy tố, xét xử còn vướng mắc cả trong lý luận và thực tiễn. Pháp luật hình sự chưa hoàn thiện, chưa kịp thời điều chỉnh phù hợp với diễn biến phức tạp, thủ đoạn tinh vi, kín đáo. Tình hình tội phạm tham ô tài sản diễn ra ở cả chiều sâu lẫn chiều rộng, sức công phá không chỉ dừng lại ở kinh tế mà còn ở chính trị và xã hội. Bộ luật Hình sự năm 2015 có những thay đổi đáng kể, nhất là quy định xử phạt tội tham ô tài sản trong cả lĩnh vực tư, điều mà Bộ luật Hình sự trước đây chưa đề cập đến. Đồng thời cũng để phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về phòng, chống tham nhũng (UNCAC) mà Việt Nam là một quốc gia thành viên.

1.1. Khái Niệm Tội Tham Ô Tài Sản Theo Luật Hình Sự

Tham ô tài sản có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể là một hiện tượng tiêu cực xã hội, tệ nạn xã hội hay là hành vi vi phạm pháp luật. Theo từ điển tiếng Việt tham ô là:“Lợi dụng chức quyền hạn hoặc chức trách để ăn cắp của công”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là ăn cắp của công thành của tư; đục khoét của Nhân dân; ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm của riêng cho địa phương mình, đơn vị mình cũng là tham ô. Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là ăn cắp của công, khai gian lậu thuế”. Tội tham ô tài sản là tội phạm được Nhà nước ta quy định từ rất sớm. Sắc lệnh số 223–SL ngày 27 tháng 11 năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành được xem là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên về tội tham ô tài sản.

1.2. Điều 353 Bộ Luật Hình Sự Về Tội Tham Ô Tài Sản

Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 278, thuộc Chương XXI Chương các tội phạm về chức vụ. Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 353 thuộc Chương XXIII. Các tội phạm về chức vụ, tội tham ô tài sản được quy định như sau: “1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ 2.000 đồng hoặc dưới 2.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Như vậy cả hai bộ luật hình sự đều nhất quán chủ thể của tội tham ô tài sản phải là người có chức vụ và quyền hạn, họ đã lợi dụng chức vụ và quyền hạn đó để chiếm giữ tài sản bất hợp pháp bằng nhiều cách khác nhau với mục đích chính là chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.

II. Yếu Tố Cấu Thành Tội Tham Ô Tài Sản Theo Pháp Luật

Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý duy nhất và là cơ sở thực tế để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người thực hiện hành vi chứa đựng các yếu tố cấu thành tội phạm. Cũng như bất kì loại tội phạm nào, tội tham ô tài sản được cấu thành bởi bốn yếu tố: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm.

2.1. Khách Thể Của Tội Tham Ô Tài Sản Phân Tích Chi Tiết

Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính giai cấp của pháp luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng, khẳng định: “Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ và bị tội phạm xâm hại”. Điều 352, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định khái niệm về tội phạm chức vụ là: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”. Đối với tội tham ô tài sản thì hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về khách thể của tội phạm này: Ý kiến thứ nhất cho rằng: Khách thể trực tiếp của tội tham ô tài sản là quan hệ sở hữu còn khách thể loại là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. Ý kiến thứ hai cho rằng: Khách thể của tội tham ô tài sản chắc chắn là quyền sở hữu của Nhà nước. Ý kiến thứ ba cho rằng: Khách thể của tội tham ô tài sản là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quan hệ sở hữu tài sản.

2.2. Mặt Khách Quan Của Tội Tham Ô Tài Sản Các Hành Vi

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của tội phạm đó. Mặt khách quan của tội phạm bao gồm các dấu hiệu: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện phạm tội, thời gian, địa điểm, phương pháp thực hiện tội phạm. Hành vi khách quan của tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý. Hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tài sản từ quyền quản lý của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý sang quyền chiếm hữu của người phạm tội.

III. Thực Tiễn Xét Xử Tội Tham Ô Tài Sản Tại Tỉnh Long An

Nhằm đánh giá một cách toàn diện thực trạng tội phạm tham ô tài sản trên địa bàn tỉnh Long An, qua đó đồng thời làm rõ thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử tội phạm tham ô tài sản trên địa bàn tỉnh Long An, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần để hoàn thiện hơn pháp luật hình sự và nội luật hóa các quy định của Bộ luật Hình sự.

3.1. Khái Quát Tình Hình Xét Xử Tội Tham Ô Tài Sản Ở Long An

Tình hình xét xử tội tham ô tài sản trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2013 đến hết năm 2017 cho thấy số vụ án, số bị cáo đã xét xử về tội tham ô tài sản so với tổng số vụ án tham nhũng trên địa bàn tỉnh Long An. Hình phạt đối với tội tham ô tài sản trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2013 đến hết năm 2017. Cơ cấu tổ chức lực lượng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Long An đến hết năm 2017. Cơ cấu tổ chức của phòng thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra, kiểm tra xét xử sơ thẩm án hình sự về kinh tế, chức vụ của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tính đến hết năm 2017. Cơ cấu tổ chức lực lượng của Tòa án nhân dân tỉnh Long An tính đến hết năm 2017.

3.2. Vướng Mắc Trong Định Tội Danh Tham Ô Tài Sản Tại Long An

Thực tiễn định tội danh đối với tội tham ô tài sản trên địa bàn tỉnh Long An còn gặp nhiều vướng mắc. Việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, xác định chủ thể của tội phạm, xác định hành vi chiếm đoạt tài sản, xác định lỗi của người phạm tội là những vấn đề cần được làm rõ. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần phối hợp chặt chẽ để giải quyết những vướng mắc này.

IV. Giải Pháp Phòng Ngừa Tội Tham Ô Tài Sản Tại Long An

Để đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội tham ô tài sản, cần có các giải pháp đồng bộ. Dự báo những yếu tố tác động đến tình hình tội tham ô tài sản. Giải pháp hoàn thiện và áp dụng pháp luật hình sự đối với tội tham ô tài sản.

4.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Về Tội Tham Ô Tài Sản

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hình sự về tội tham ô tài sản để phù hợp với tình hình thực tế. Cần có hướng dẫn cụ thể về việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, xác định chủ thể của tội phạm, xác định hành vi chiếm đoạt tài sản, xác định lỗi của người phạm tội. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

4.2. Nâng Cao Hiệu Quả Điều Tra Truy Tố Xét Xử Tội Tham Ô

Cần nâng cao năng lực của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trong việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội tham ô tài sản. Cần tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Cần có cơ chế bảo vệ người tố cáo tội tham ô tài sản.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Nghiên Cứu Về Tội Tham Ô Tại Long An

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ làm rõ những vấn đề lý luận về tội tham ô tài sản và qua đó đưa ra các kiến nghị giải pháp bảo đảm hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật. Đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong việc điều tra, truy tố và xét xử tội tham ô tài sản, định hướng xu thế nội luật hóa các quy định pháp luật Việt Nam để phù hợp với các quy định quốc tế, cũng đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội tham ô trên địa bàn tỉnh Long An trong thời gian tới.

5.1. Nâng Cao Nhận Thức Về Phòng Chống Tham Nhũng

Cần nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và người dân về phòng chống tham nhũng. Cần xây dựng văn hóa liêm chính trong xã hội. Cần tăng cường vai trò giám sát của cộng đồng đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước.

5.2. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế Về Phòng Chống Tham Nhũng

Cần tăng cường hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng. Cần tham gia các công ước quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Cần trao đổi kinh nghiệm với các nước trên thế giới về phòng, chống tham nhũng.

VI. Kết Luận Triển Vọng Nghiên Cứu Tội Tham Ô Tài Sản

Luận văn đã nghiên cứu về các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với tội tham ô tài sản về định tội danh và quyết định hình phạt đối với những vụ án tham ô tài sản điển hình của Viện Kiểm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2013 đến hết năm 2017. Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật hình sự của Nhà nước đối với tội phạm về tham nhũng nói chung và tham ô tài sản nói riêng.

6.1. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Tội Tham Ô Tài Sản

Cần tiếp tục nghiên cứu về tội tham ô tài sản trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Cần nghiên cứu về các biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng. Cần nghiên cứu về vai trò của báo chí trong phòng, chống tham nhũng.

6.2. Đề Xuất Chính Sách Về Phòng Chống Tham Nhũng

Cần xây dựng chính sách khuyến khích người dân tố cáo tội tham ô tài sản. Cần xây dựng chính sách bảo vệ người tố cáo tội tham ô tài sản. Cần xây dựng chính sách khen thưởng người có thành tích trong phòng, chống tham nhũng.

05/06/2025
Tội tham ô tài sản theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh long an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI THAM Ô TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản 1. Khái niệm tội tham ô tài sản Tham ô tài sản có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể là một hiện tượng tiêu cực xã hội, tệ nạn xã hội hay là hành vi vi phạm pháp luật. Theo từ điển tiếng Việt tham ô là:“Lợi dụng chức quyền hạn hoặc chức trách để ăn cắp của công” [52, tr.

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là ăn cắp của công thành của tư; đục khoét của Nhân dân; ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm của riêng cho địa phương mình, đơn vị mình cũng là tham ô. Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là ăn cắp của công, khai gian lậu thuế”. Tội tham ô tài sản là tội phạm được Nhà nước ta quy định từ rất sớm. Giai đoạn trước Bộ luật Hình sự 1985 và Bộ luật Hình sự 1999, tội tham ô tài sản đã được đề cập đến lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 223–SL ngày 27 tháng 11 năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành được xem là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên về tội tham ô tài sản.

Sau khi Bộ luật Hình sự năm 1985 được ban hành thì tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 133 với tội danh: “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” thuộc Chương các tội phạm xâm phạm sở hữu. Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 278, thuộc Chương XXI Chương các tội phạm về chức vụ. Tội tham ô tài sản được quy định như sau: “1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu 6 đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai đến bảy năm.

Gây hậu quả nghiêm trọng; b. Đã bị kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; c. Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại các khoản 2, khoản 3, khoản 4 của Điều này.

Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 353 thuộc Chương XXIII. Các tội phạm về chức vụ, tội tham ô tài sản được quy định như sau: “1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ 2.000 đồng hoặc dưới 2.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Như vậy cả hai bộ luật hình sự đều nhất quán chủ thể của tội tham ô tài sản phải là người có chức vụ và quyền hạn, họ đã lợi dụng chức vụ và quyền hạn đó để chiếm giữ tài sản bất hợp pháp bằng nhiều cách khác nhau với mục đích chính là chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.

Người phạm tội thực hiện hành vi này với lỗi cố ý trực tiếp với mục đích là vụ lợi, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan của Nhà nước các tổ chức xã hội khác. Tội tham ô tài sản luôn có yếu tố là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do chính mình có trách nhiệm quản lý bằng nhiều cách khác nhau. Các dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý duy nhất và là cơ sở thực tế để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người thực hiện hành vi chứa đựng các yếu tố cấu thành tội phạm. Cũng như bất kì loại tội phạm nào, tội tham ô tài sản được cấu thành bởi bốn yếu tố: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm.

Khách thể của tội tham ô tài sản Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính giai cấp của pháp luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng, khẳng định: “Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ và bị tội phạm xâm hại” [36, tr. Điều 352, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định khái niệm về tội phạm chức vụ là: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”. Đối với tội tham ô tài sản thì hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về khách thể của tội phạm này: - Ý kiến thứ nhất cho rằng: Khách thể trực tiếp của tội tham ô tài sản là quan hệ sở hữu còn khách thể loại là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. - Ý kiến thứ hai cho rằng: Khách thể của tội tham ô tài sản chắc chắn là quyền sở hữu của Nhà nước.

- Ý kiến thứ ba cho rằng: Khách thể của tội tham ô tài sản là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quan hệ sở hữu tài sản [31, tr. Trong ba ý kiến trên theo tác giả thì ý kiến thứ ba “Khách thể của tội tham ô tài sản là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quan hệ sở hữu tài sản” thì đây là quan điểm phù hợp, đầy đủ và cũng là dấu hiệu về khách thể mà Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội tham ô tài sản. 8 Như vậy ý kiến này có phần đầy đủ khi xác định khách thể của tội tham ô tài sản hơn vì nó bao gồm các hành vi như xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và sở hữu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội. Vì những lý do sau đây: - Lý do thứ nhất, tội tham ô tài sản xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.

Tội tham ô tài sản nằm trong Chương XXIII các tội phạm về chức vụ thuộc Mục 1 các tội phạm tham nhũng như: Tội nhận hối lộ; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công cụ; tội lạm quyền khi thi hành công vụ; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; tội giả mạo trong công tác làm ảnh đến uy tín của cơ quan, tổ chức. Theo Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định về các cơ quan, tổ chức bao gồm: Cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước. Tham ô tài sản gây nguy hiểm nghiêm trọng nhất đến hoạt động đúng đắn và uy tín của các cơ quan, tổ chức đây là khách thể quan trọng và cơ bản để từ đó có thể phân biệt với các tội phạm khác có cùng hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không trực tiếp xâm hại đến các hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. Việc xác định chính xác khách thể sẽ góp phần xác định tội danh trong việc điều tra, truy tố và xét xử tội phạm về chức vụ.

- Lý do thứ hai, tội tham ô tài sản xâm hại đến quan hệ sở hữu cơ quan Nhà nước, quan hệ sở hữu. Theo Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì đối tượng tác động là tài sản đặc biệt, tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của người có chức vụ, quyền hạn. Tính hợp pháp thể hiện ở chỗ quyền năng quản lý đó được quy định trong pháp luật hoặc điều lệ của cơ quan, tổ chức. Người có trách nhiệm quản lý tài sản và lợi dụng trách nhiệm đó để chiếm đoạt tài sản 9 mình quản lý bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp giá trị chiếm đoạt phải định giá được từ 2.000 đồng trở lên thì sẽ cấu thành tội tham ô tài sản.

Nếu người chiếm đoạt tài sản không có trách nhiệm quản lý tài sản nhưng lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản của người khác thì sẽ cấu thành tội phạm khác về chức vụ như: Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội nhận hối lộ; tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản… Tài sản mà người phạm tội chiếm đoạt nếu có giá trị dưới 2.000 đồng thì phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: Đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, đã bị kết án một trong các quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Việc “đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm” đó là trường hợp người phạm tội đã có hành vi tham ô trước đó và đã bị xử lý kỷ luật như: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương… mà vẫn còn thực hiện hành vi tham ô tài sản trị giá dưới 2. Trường hợp “đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” như vậy đó là trường hợp người phạm tội đã bị Tòa án kết tội về các tội danh sau đây: Tội nhận hối lộ; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; tội lạm quyền khi thi hành công vụ; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; tội giả mạo trong công tác. Người phạm tội chưa được xóa án tích về các tội danh nêu trên mà vẫn tiếp tục có hành vi tham ô tài sản có giá trị dưới 2.000 đồng thì cấu thành về tội tham ô tài sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tội Tham Ô Tài Sản Theo Pháp Luật Hình Sự Việt Nam Tại Tỉnh Long An" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tội tham ô tài sản trong bối cảnh pháp luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là tại tỉnh Long An. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các quy định pháp lý liên quan mà còn đánh giá thực tiễn áp dụng và những thách thức trong việc phòng chống tội phạm này. Độc giả sẽ nhận thấy tầm quan trọng của việc hiểu rõ các quy định pháp luật để có thể tham gia tích cực vào công tác phòng chống tham nhũng, từ đó góp phần xây dựng một xã hội công bằng và minh bạch hơn.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa và đấu tranh phòng chống tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về tội tham ô trong bối cảnh xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ lịch sử tham nhũng và phòng chống tham nhũng thời nguyễn giai đoạn 18021884 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về lịch sử và các biện pháp phòng chống tham nhũng trong quá khứ. Cuối cùng, tài liệu Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn quận gò vấp thành phố hồ chí minh sẽ cung cấp thông tin bổ ích về các tình tiết có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự trong các vụ án tham ô. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề tham nhũng và pháp luật hình sự tại Việt Nam.