Tổng quan nghiên cứu

Tham nhũng và tham ô tài sản là những vấn nạn nguy hại trực tiếp đe dọa sự ổn định kinh tế, trật tự quản lý công quyền và làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào bộ máy Nhà nước. Trong cơ cấu tội phạm tham nhũng tại Việt Nam, hành vi tham ô tài sản luôn chiếm tỷ lệ cao và diễn biến ngày càng tinh vi. Tại địa bàn tỉnh Long An, thống kê giai đoạn 2013 - 2017 ghi nhận 15 vụ án tham ô tài sản với 16 bị cáo được đưa ra xét xử trên tổng số 28 vụ án tham nhũng với 33 bị cáo, chiếm tỷ lệ 53.5% về số vụ và 48.4% về số bị cáo. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội danh này còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, đặc biệt trong giai đoạn chuyển giao giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về cấu thành tội phạm, đánh giá toàn diện thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Long An trong 5 năm (từ 2013 đến hết năm 2017). Nghiên cứu hướng tới việc nhận diện những sai sót, vướng mắc trong phân hóa trách nhiệm hình sự và xác định vai trò đồng phạm. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa lý luận sâu sắc khi góp phần chuẩn hóa nhận thức pháp lý, đồng thời mang giá trị thực tiễn cao nhằm định hướng hoàn thiện quy phạm pháp luật, nâng cao tỷ lệ xét xử đúng tội danh đạt 100% và tăng cường hiệu quả thu hồi tài sản công bị thất thoát.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận khoa học luật hình sự Việt Nam và học thuyết về cấu thành tội phạm. Cấu thành tội phạm tội tham ô tài sản được phân tích qua 4 yếu tố bắt buộc: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Khách thể của tội tham ô tài sản mang tính chất kép, trực tiếp xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản. Mặt khách quan phản ánh hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản đang có trách nhiệm quản lý. Mặt chủ quan đòi hỏi lỗi cố ý trực tiếp với động cơ vụ lợi cá nhân.

Đặc biệt, chủ thể của tội tham ô tài sản là chủ thể đặc biệt, đòi hỏi hai điều kiện cần và đủ: phải là người có chức vụ, quyền hạn và có trách nhiệm quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp đối với tài sản bị chiếm đoạt theo Điều 352 và Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015. Lý luận về định tội danh theo quan điểm của Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh được vận dụng xuyên suốt nhằm xác định tính phù hợp giữa hành vi thực tế và mô hình pháp lý tương ứng. Nghiên cứu cũng đối chiếu sự phát triển của quy phạm từ Sắc lệnh số 223-SL năm 1946, Pháp lệnh năm 1970, Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1985, Điều 278 Bộ luật Hình sự năm 1999 đến điểm đột phá tại Khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi mở rộng phạm vi xử lý tội tham ô sang khu vực ngoài Nhà nước, phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về phòng, chống tham nhũng (UNCAC).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ các báo cáo tổng kết thực tiễn tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân tỉnh Long An giai đoạn 2013 - 2017. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 15 vụ án tham ô tài sản với 16 bị cáo trong tổng số 28 vụ án tham nhũng được thụ lý, xét xử sơ thẩm có hiệu lực pháp luật trong suốt timeline 5 năm. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn diện (100% tổng thể các vụ án tham ô tài sản trong giai đoạn khảo sát) nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối và loại trừ sai số thống kê.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Luận văn kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích tài liệu và phương pháp so sánh luật học. Việc áp dụng phương pháp thống kê nhằm định lượng hóa chính xác cơ cấu tội phạm, tần suất xuất hiện của các khung hình phạt và đo lường tỷ lệ chiếm đoạt tài sản. Phương pháp so sánh luật học và phân tích tổng hợp hồ sơ án được lựa chọn vì đây là công cụ tối ưu để đối chiếu sự thay đổi của các điều luật qua từng giai đoạn lập pháp, đồng thời mổ xẻ bản chất pháp lý của từng hành vi phạm tội thực tế, từ đó phát hiện các xung đột quy phạm và vướng mắc nghiệp vụ của cơ quan tiến hành tố tụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tội tham ô tài sản luôn chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng số án tham nhũng tại địa bàn tỉnh Long An. Trong 5 năm từ 2013 đến 2017, Tòa án hai cấp tỉnh Long An đã xét xử 15 vụ án tham ô trên tổng số 28 vụ án tham nhũng (chiếm 53.5%) và 16 bị cáo tham ô trên 33 bị cáo tham nhũng (chiếm 48.4%). Đỉnh điểm là năm 2013, tỷ lệ án tham ô tài sản chiếm tới 80% tổng số vụ (4/5 vụ) và 66.7% tổng số bị cáo (4/6 bị cáo). Tỷ lệ này ở các năm tiếp theo duy trì ở mức cao: năm 2014 chiếm 37.5% số vụ (3/8 vụ), năm 2015 chiếm 62.5% số vụ (5/8 vụ), năm 2016 chiếm 50% số vụ (1/2 vụ) và năm 2017 chiếm 40% số vụ (2/5 vụ).

Thứ hai, thủ đoạn thực hiện hành vi tham ô vô cùng đa dạng, tinh vi và tập trung chủ yếu vào các vị trí kế toán, thủ quỹ trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp. Điển hình như vụ án Lê Nguyễn Minh Thư (kế toán Trường Tiểu học Trương Công Xưởng) đã lập khống 124 giấy rút dự toán ngân sách và 13 ủy nhiệm chi giả mạo để chiếm đoạt số tiền 749.500.000 đồng; vụ án Huỳnh Duy Thanh (kế toán Công an huyện Bến Lức) lợi dụng việc thu chi để chiếm đoạt trên 2.400.000.000 đồng và bị tuyên phạt 18 năm tù; vụ án Bùi Văn Liêm (thủ quỹ Nhà máy Gạch Tuynel Đức Hòa) chiếm đoạt 456.000.000 đồng, nhận mức án 10 năm tù; vụ án Đoàn Thị Út (kế toán Trường Trung học phổ thông Thạnh Hóa) bỏ ngoài sổ sách học phí của 111 học sinh và tiền hoa hồng bảo hiểm y tế để chiếm đoạt 50.700.000 đồng; vụ án Bùi Thị Thanh Xuân (cán bộ phụ trách chính sách xã Nhơn Ninh) lập danh sách khống 27 người có công đã qua đời với 51 lần chiếm đoạt, gây thiệt hại 172.500.000 đồng.

Thứ ba, thực tiễn định tội danh tại địa phương còn tồn tại sai sót trong việc phân biệt ranh giới giữa tội tham ô tài sản với các tội phạm khác và xác định vai trò đồng phạm. Điển hình trong vụ án Lê Nguyễn Minh Thư, bị cáo Võ Quốc Việt (chồng của Thư) đã thỏa thuận mở tài khoản thẻ ATM để Thư chuyển tiền chiếm đoạt rút tiêu xài cá nhân. Tòa án tuyên phạt Việt 1 năm tù cho hưởng án treo về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 là chưa thỏa đáng. Xét về bản chất lý luận, hành vi của Việt cấu thành tội tham ô tài sản với vai trò đồng phạm giúp sức theo Khoản 1 Điều 278, đòi hỏi khung hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm mới bảo đảm tính răn đe.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa sinh động thông qua Bảng so sánh số vụ án, số bị cáo xét xử và Biểu đồ cơ cấu tội phạm tham nhũng hàng năm giai đoạn 2013 - 2017. Bảng số liệu phản ánh sự suy giảm tương đối của số lượng vụ án qua từng năm nhưng mức độ nghiêm trọng và số tiền chiếm đoạt lại có xu hướng tăng lên. Biểu đồ cột biểu diễn tương quan giữa án tham ô và tổng số án tham nhũng cho thấy tham ô luôn là nhóm tội nguy cơ cao nhất tại địa phương.

Nguyên nhân của thực trạng trên bắt nguồn từ cơ chế kiểm soát tài chính nội bộ lỏng lẻo, tình trạng kiêm nhiệm vị trí chuyên môn thiếu sự giám sát chéo, và sự suy thoái đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ có thẩm quyền quản lý tiền, tài sản công. So sánh với các nghiên cứu quy mô toàn quốc, tình hình phạm tội tại Long An phản ánh đúng bức tranh chung của giai đoạn hội nhập, khi các giao dịch kinh tế gia tăng nhưng cơ chế thanh tra, kiểm toán chưa kịp thời khép kín các kẽ hở quản lý. Bên cạnh đó, việc cơ quan tố tụng đôi khi chỉ chú trọng đến yếu tố thiệt hại tài sản mà xem nhẹ mức độ xâm hại đến hoạt động bình thường của bộ máy tổ chức đã dẫn đến nhận định chưa thật sự chuẩn xác về khách thể của tội phạm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần sớm ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng thống nhất Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn 2019 - 2020. Văn bản cần làm rõ tiêu chí xác định người có trách nhiệm quản lý tài sản gián tiếp, quy chuẩn phân biệt đồng phạm giúp sức trong tội tham ô với tội tiêu thụ tài sản, và cơ chế xử lý tham ô trong khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Mục tiêu hướng tới là giảm 100% tỷ lệ án bị hủy, sửa do lỗi định sai tội danh.

Thứ hai, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân tỉnh Long An cần nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, phấn đấu đạt tỷ lệ thu hồi trên 80% giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong mỗi vụ án. Cơ quan điều tra cần chủ động áp dụng các biện pháp phong tỏa tài khoản ngân hàng, kê biên tài sản nhà đất của bị can ngay trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi khởi tố vụ án, ngăn chặn triệt để hành vi tẩu tán tài sản cho người thân.

Thứ ba, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An và Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tài chính cần thiết lập quy trình kiểm toán nội bộ độc lập định kỳ 6 tháng/lần tại 100% các đơn vị trường học, trạm y tế và cơ quan hành chính cấp xã. Việc loại bỏ hoàn toàn cơ chế tự thu, tự chi bằng tiền mặt và chuyển sang giao dịch điện tử qua hệ thống kho bạc sẽ giúp giảm thiểu ít nhất 30% nguy cơ xảy ra sai phạm trong quản lý ngân sách.

Thứ tư, Công an tỉnh Long An cần tăng cường biên chế và tổ chức từ 2 đến 3 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng giám định tài chính - kế toán và điều tra kỹ thuật số cho đội ngũ điều tra viên Cảnh sát kinh tế. Việc nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ sẽ rút ngắn thời gian điều tra trung bình từ 12 tháng xuống còn dưới 6 tháng đối với các vụ án chức vụ phức tạp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Luận văn cung cấp hệ thống phân tích thực chứng từ 15 vụ án cụ thể, giúp người tiến hành tố tụng nắm vững kỹ năng nhận diện dấu hiệu cấu thành, phân biệt chuẩn xác tội tham ô với các tội danh lân cận, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội và giảm tỷ lệ án bị hủy sửa xuống 0%.

Nhóm 2: Kế toán trưởng, thủ quỹ và lãnh đạo cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp. Nghiên cứu chỉ rõ các kẽ hở quản trị thông qua các vụ án điển hình gây thiệt hại từ 50 triệu đồng đến hơn 2.4 tỷ đồng, là căn cứ thực tế để các nhà quản lý hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ và thiết lập hàng rào kiểm soát rủi ro tài chính hiệu quả.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự. Toàn văn công trình gồm 3 chương, 9 tiết và 74 trang tư liệu chuyên sâu là nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị, cung cấp phương pháp tiếp cận đa chiều từ lịch sử lập pháp đến tổng kết thực tiễn xét xử.

Nhóm 4: Cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra và tư vấn chính sách phòng chống tham nhũng. Các luận cứ khoa học và phân tích về Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ hỗ trợ việc hoạch định chính sách, hoàn thiện khung pháp lý và nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế theo Công ước UNCAC.

Câu hỏi thường gặp

Bộ luật Hình sự 2015 có điểm đổi mới căn bản nào về tội tham ô tài sản so với Bộ luật Hình sự 1999?

Điểm đổi mới đột phá nhất của Bộ luật Hình sự năm 2015 tại Khoản 6 Điều 353 là mở rộng phạm vi xử lý tội tham ô tài sản sang khu vực doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Ngoài ra, luật quy định cụ thể mức định lượng tài sản chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên và phân hóa rõ các khung hình phạt tương ứng với mức thiệt hại từ 100 triệu, 500 triệu đến 1 tỷ đồng trở lên.

Dấu hiệu đặc thù nào dùng để xác định chủ thể của tội tham ô tài sản?

Chủ thể tội tham ô tài sản là chủ thể đặc biệt, bắt buộc phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: có chức vụ, quyền hạn và có trách nhiệm quản lý hợp pháp đối với chính tài sản bị chiếm đoạt. Nếu một người có chức vụ nhưng không được giao trách nhiệm quản lý tài sản mà chiếm đoạt tiền bạc thì hành vi đó cấu thành tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Người không có chức vụ quyền hạn có thể bị xử lý về tội tham ô tài sản hay không?

Người không có chức vụ quyền hạn hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài sản nếu tham gia với tư cách đồng phạm tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức. Điển hình như hành vi của người chồng mở thẻ ngân hàng giúp vợ chuyển tiền tham ô 749.500.000 đồng tại huyện Đức Hòa phải bị truy cứu vai trò đồng phạm giúp sức.

Mức định lượng giá trị tài sản tối thiểu để khởi tố tội tham ô tài sản là bao nhiêu?

Theo Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, người chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp tài sản dưới 2.000.000 đồng vẫn bị xử lý nếu người vi phạm đã bị xử lý kỷ luật về hành vi tham ô hoặc đã bị kết án về các tội tham nhũng chưa được xóa án tích.

Vì sao tỷ lệ án tham ô tài sản tại Long An giai đoạn 2013 - 2017 lại chiếm tới 53.5% tổng số án tham nhũng?

Nguyên nhân chủ yếu do cơ chế kiểm soát tài chính tại các trường học, ủy ban cấp xã và công ty chi nhánh còn nhiều lỗ hổng, việc thu nộp tiền mặt tạo điều kiện cho thủ quỹ và kế toán lập khống hóa đơn, giả mạo chữ ký để biển thủ công quỹ trong thời gian dài trước khi bị phát hiện.

Kết luận

  • Tội tham ô tài sản chiếm tỷ lệ áp đảo 53.5% tổng số vụ án và 48.4% tổng số bị cáo tham nhũng tại tỉnh Long An trong giai đoạn 2013 - 2017.
  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện 4 yếu tố cấu thành tội phạm, làm rõ tính chất chủ thể đặc biệt và chỉ ra sự khác biệt với các tội danh lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
  • Công trình mổ xẻ 15 vụ án thực tế, phát hiện các điểm nghẽn trong định tội danh đồng phạm và quyết định hình phạt của Tòa án hai cấp.
  • Đánh giá sâu sắc ý nghĩa của Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong việc mở rộng xử lý tội phạm sang khu vực tư nhân và tương thích với chuẩn mực quốc tế UNCAC.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về lập pháp, nghiệp vụ tư pháp và kiểm toán nội bộ nhằm nâng cao tỷ lệ thu hồi tài sản thất thoát đạt trên 80%.

Nghiên cứu của tác giả Lê Hoàng Phước tại Học viện Khoa học Xã hội là một công trình khoa học nghiêm túc, cung cấp hệ giải pháp thiết thực cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm chức vụ. Các cơ quan tư pháp và tổ chức quản lý cần tiếp tục tham khảo và triển khai các khuyến nghị này trong giai đoạn tiếp theo nhằm xây dựng một nền hành chính công minh bạch, liêm chính và thượng tôn pháp luật.