CHƯƠNG I: TO! THAM Ô TAI SAN XÃ HỘI CHU NGHĨA THEO PHAP LUẬT HINH SU VIỆT NAM. KHAI NIEM TOI THAM O TAI SAN XA HOI CHU NGHIA. Tham 6 là một khái niệm pháp lý được sử dung trong pháp luật hình sự Việt Nam ngay từ sau khi thành lập nước. Tham ô từ xa xưa được hiểu một cách đơn giản nhât là việc cán bộ quan chức lấy tài sản của công đem về sử dụng cho cá nhân hoặc gia đình mình.
Trong pháp luật hình sự của hầu hết các nước cũng có khái niệm với nội dung tương tự và được gọi là tham nhũng, quan chức ăn cắp của công, biển thủ. Có thể nói tham ô là một hiện tượng xã hội nó ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và sở hữu tư nhân về tài sản. Ở nước ta hiện nay, có thể coi tham ô là một trong những hành động xấu xa nhất của quan chức Nhà nước. Nhân đân lao động bằng mồ hôi và nước mắt xây dựng cơ sở vật chât của Nhà nước và xã hội.
Tài sản xã hội chủ nghĩa là nền tảng vật chât của xã hội, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống vật chất của nhân đân ta. Những kẻ tham 6 đã coi đồng tiền là tối thượng, san sàng chiếm của công làm của tư, làm giầu bat chính, là làm hại đến sự nghiệp xây đựng Nước nhà, là làm hại đên sự cải thiện đời sông của nhân dan. Do vậy, chúng ta phải tìm mọi cách để ngăn chặn, day lùi và loại trừ hành động xấu xa này. Để đưa ra được các giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và loại trừ tệ tham ô, thì trước hết chúng ta phải nhận điện được rõ bộ mặt của tệ tham 6.
Muốn vậy, cần phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ khái niệm tội tham 6 tài sản xã hội chủ nghĩa (từ đây viết tắt là tội tham ô). Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: ”- Đứng về phía cán bộ mà nói, tham 6 là: Ăn cắp của công thành của tư. Duc khoét của nhán dán. Ăn bớt của bộ đội.
Tiền ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của chính phú để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vi mình, cũng là tham 6". Trên phương điện pháp luật, từ sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự quy định về việc trừng trị các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa nói chung trong đó có tội tham 6 nói riêng, nhưng chưa đưa ra được khái niệm cụ thể và đẩy đủ dé mô tả đấu hiệu pháp lý của tội phạm tham ô mà chỉ nêu tội đanh, nên trong quá trình xử lý gặp rất nhiều khó khăn. Chỉ đến khi Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa được ban hành (ngày 21-10-1970) thì các hành vi xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa mới được qui định tại các điều luật cụ thể, trong đó có tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa. Lần đầu tiên khái niệm tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa đã được đưa ra với các đâu hiệu pháp lý đặc trưng của nó và được quydinh tại Điều 8 với nội dung như sau: "Điều 8 - Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa.
Kẻ nào lợi đụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, thì bị phạt. Khái niệm tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định trong pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa tồn tại cho đến khi ban hành Bộ luật hình sự - Bộ luật đầu tiên của Nhà nước ta, được Quốc (? Hồ Chí Minh - Thực hành tiết kiệm và chống bệnh tham 6, lăng phí, chống bệnh quan liêu. Nhà xuất bản sự thật, Hà nội, nãm 1981, trang 14. hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII thông qua ngày 27-6-1985 tại kỳ hop thứ 9 và có hiệu luc từ ngày 1-1-1986.
Trong Bo luật hình sự, khái niệm tội tham 6 tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định tại Điều 133 như sau: "Điều 133 - tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa mà mình có trách nhiệm trực tiếp quan lý, thì bi phạt. Khái niệm tội tham ô được quy định trong khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự, đầy đủ hơn, chặt chẽ hơn, chính xác hơn so với khái niệm được quy định trong khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh trừng trị các tội xãm phạm tài san xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi tuy về mặt từ ngữ lời văn không được hoàn toàn giống nhau, nhưng nội dung khái niệm tội tham ô được quy định ở khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự là giống nhau chứ không phải lời văn ở điều này (Điều 133 Bộ luật hình sự) quy định các đấu hiệu pháp lý của tội tham 6 khác cơ bản với lời văn ghi ở khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa.
Điều này được chứng minh trong Du thảo thông tư ngày 16-3-1973 hướng dẫn thống nhất nhận thức về hai Pháp lệnh của Liên bộ Toà án nhân dan tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôi cao, Bộ công an: "Đặc trưng quan trọng nhất của tội tham 6 là kẻ phạm tội phải là những người công tác trong các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội đã lợi đụng chức vụ, quyền hạn có quan hệ đến tài sản xã hội chủ nghĩa để chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của đơn vị họ công tác bằng bất kỳ hình thức nao"? và "tham ô chính là hành vi của những kẻ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng Hé thống hoá luật lệ về hinh sự, tập 1, Hà Nội, nam 1975, trang 225. 10 tín nhiệm; còn trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm. là hành vi của những người ngoài các tổ chức có tài sản hoặc quản lý tài sản bị xam phạm (như tư nhân ký hợp đồng vận chuyển thóc với cơ quan Nhà nước rồi lạm dung tin nhiệm lấy thóc), hoặc là những kẻ tuy ở trong các tổ chức đó nhưng lại không có chức vụ, quyền hạn gì đối với tài sản bị xâm phạm (công nhân lấy thành phẩm hoặc nguyên vật liệu của phân xưởng), hoặc tuy có chức vụ, nhưng không lợi dung chức vụ để phạm tội (kế toán lợi dụng sơ hớ của thủ quỹ lấy cắp tiền trong két)). Như vậy, người có chức vụ, quyền hạn và có trách nhiệm trực tiếp quản lý tài sản phải là người có liên quan đến tài sản và có quyền quyết định trong việc bảo quản, chuyển giao, bán, sử dụng tài sản đó (Ví đụ: giám đốc Công ty, Xí nghiệp, kế toán, thủ quỹ, thủ kho.
Trước tình hình các tội phạm tham nhũng nói chung và tội phạm tham 6 nói riêng đang diễn biến phức tạp, gây tac hại nghiêm trọng về nhiều mặt cho đời sông kinh tế - xã hội, đư luận xã hội rất công phẫn và bất bình, nó đã, đang và sẽ là một trong những nguy cơ và thách thức đối với sự phát triển của đất nước. Báo cáo chính trị Ban chấp hành trung ương Dang tại Đại hội VIII đã nhận định: "Té quan liêu, tham nhũng và suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ bị xói mòn, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước bị thi hành sai lệch đẫn tới chệch hướng, đó là mảnh đât thuận lợi cho diễn biến hoà bình". Chính vì vậy, chống tham nhũng nói chung và chống tham ô nói riêng đã và đang là yêu cầu bức xúc, là một trong những nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm trong sạch bộ máy © Hệ thống hoá luật lệ về hình sự, tập 1, Hà Nội, nam 1975, trang 226. 11 Đảng, bộ máy Nhà nước, nang cao hiệu lực quan ly Nha nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới của đất nước trong thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thời kỳ chuyển sang nén kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhằm phục vụ trực tiếp,kịp thời cuộc dấu tranh chống tham nhũng nói chung và chống tham 6 nói riêng, tại ky họp thứ 11 ngày 10-5-1997 Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, trong đó có tội thamô tài sản xã hội chủ nghĩa và có hiệu lực từ ngày 22-5-1997. Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa được sửa đổi, bổ sung như sau: "Điều 133 - Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa. Người nào lợi đụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ năm triệu đồng đến đưới một ram triệu đồng hoặc dưới năm triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trong, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý ky luật mà còn vi phạm, thì bi phạt. Qua nghiên cứu tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa vừa được sửa đổi, bổ sung, chúng tôi thấy khái niệm tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa được đưa ra cụ thể hơn, chính xác hơn, tránh được các cách hiểu khác nhau hoặc lợi dụng tiêu cực trong áp dụng luật.