Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Mai Ngọc Dương với đề tài "Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (chuyên ngành Luật Dân sự, mã số: 62.38.30.01) được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2010, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Ngọc Thỉnh và TS. Nguyễn Văn Dũng.
Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh Quốc hội ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2005), quy định thủ tục giám đốc thẩm như một thủ tục đặc biệt nhằm xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm. Tuy nhiên, thực tiễn khiếu nại trong lĩnh vực xét xử dân sự diễn biến phức tạp, số lượng đơn kêu oan xin giám đốc thẩm gia tăng, nhiều vụ án bị xét xử đi xét xử lại nhiều lần và kéo dài nhiều năm. Thực trạng này bắt nguồn từ những bất cập của pháp luật tố tụng dân sự: thẩm quyền xét xử và thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm còn chồng chéo, phân tán ở nhiều cấp tòa án và nhiều chủ thể; vai trò của đương sự, luật sư và nguyên tắc công khai hóa hoạt động của tòa án trong giai đoạn giám đốc thẩm chưa được đề cao; hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm chưa thực sự được tòa án cấp dưới tôn trọng. Đồng thời, yêu cầu của Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị đặt ra nhiệm vụ tổ chức lại hệ thống Tòa án nhân dân theo thẩm quyền xét xử (Tòa án sơ thẩm khu vực, Tòa án phúc thẩm, Tòa án thượng thẩm, Tòa án nhân dân tối cao) và tinh gọn Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC).
Về khoảng trống nghiên cứu, qua khảo sát dữ liệu học thuật, tác giả xác định tại thời điểm thực hiện chưa có luận án tiến sĩ nào nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện và có tính hệ thống về thiết chế giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam dưới góc độ lý luận gắn liền với việc thi hành BLTTDS năm 2004 và định hướng cải cách tư pháp.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các cơ sở lý luận và thực tiễn về giám đốc thẩm dân sự, đánh giá thực trạng quy định của BLTTDS năm 2004 và thực tiễn xét xử của ngành Tòa án nhân dân, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự và nâng cao hiệu quả công tác xét xử. Để thực hiện mục đích này, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Giải quyết một số vấn đề lý luận về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự như: bản chất, khái niệm, đặc điểm pháp lý, ý nghĩa của giám đốc thẩm dân sự; quá trình hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về giám đốc thẩm.
- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam; phân tích những mặt tích cực, những mặt hạn chế, tồn tại trong thực tiễn áp dụng; chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng xử đi xử lại nhiều lần, xét xử kéo dài.
- Đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự, nhất là phần quy định về giám đốc thẩm; đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của giám đốc thẩm trong việc nâng cao chất lượng xét xử án dân sự.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các vấn đề lý luận chung về giám đốc thẩm, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và một số quốc gia, cùng thực tiễn thi hành pháp luật giám đốc thẩm dân sự. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về văn bản luật: Tập trung vào BLTTDS năm 2004 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Về thực tiễn xét xử: Khảo sát số liệu xét xử giám đốc thẩm trên phạm vi cả nước trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008.
- Về luật học so sánh: Tập trung nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga và Nhật Bản.
- Về giải pháp: Tập trung nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục giám đốc thẩm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài:
Về các công trình trong nước:
- Dương Thị Thanh Mai (2000), Tìm hiểu các quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự, NXB Chính trị quốc gia: Phân tích khái niệm, sự hình thành, thực trạng giải quyết án và thủ tục giám đốc thẩm dựa trên Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989. Công trình này được phát triển từ luận văn thạc sĩ nên chưa phân tích sâu cơ sở lý luận toàn diện và các căn cứ dựa trên pháp lệnh cũ đã được thay thế bởi BLTTDS năm 2004.
- Ngô Anh Dũng (1996), Thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học: Nghiên cứu gộp cả thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm dân sự, công trình ra đời trước khi có BLTTDS năm 2004.
- Lê Thu Hà (2003), Một số suy nghĩ về cơ chế xét xử vụ án dân sự, NXB Chính trị quốc gia: Đề cập tổng thể các cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật, luận bàn về phân cấp thẩm quyền xét xử nhưng chưa đi sâu vào các giải pháp toàn diện cho giám đốc thẩm.
- Đào Xuân Tiến (2009), Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học: Tiếp cận gộp cả hai lĩnh vực kinh tế và dân sự, bao gồm cả giám đốc thẩm và tái thẩm; các kiến nghị đưa ra chủ yếu mang tính hình thức, thủ tục thuần túy.
- Trần Văn Trung (chủ nhiệm, 2003), Thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ của Viện Khoa học Kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC): Nghiên cứu chuyên sâu về thẩm quyền, căn cứ, thời hạn kháng nghị và thực tiễn áp dụng tại phiên tòa giám đốc thẩm dưới góc độ của ngành Kiểm sát.
- Các bài viết chuyên khảo của Đỗ Văn Chỉnh, Đinh Văn Quế, Đào Xuân Tiến trên các Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp: Tiếp cận từng khía cạnh kỹ thuật pháp lý đơn lẻ.
Về các tài liệu nghiên cứu luật học nước ngoài:
- Kỷ yếu Dự án VIE/95/017 Về pháp luật tố tụng dân sự do Viện Khoa học xét xử (TANDTC) xuất bản năm 2000, gồm bài viết của GS. Michael Browde (Đại học New Mexico, Hoa Kỳ), bài viết của Lưu Tiến Dũng về tư pháp Nhật Bản, các báo cáo khảo sát tại Đan Mạch, Thụy Điển, Trung Quốc.
- Bản dịch toàn văn BLTTDS Cộng hòa Pháp của Nhà pháp luật Việt - Pháp.
- Chuyên đề Thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới của Phạm Hoàng Diệu Linh (Viện Khoa học Kiểm sát, VKSNDTC), phân tích thủ tục phá án (Pháp), giám đốc thẩm (Nga), phúc thẩm Jokoku (Nhật Bản).
- Các ấn phẩm của Viện Khoa học Pháp lý thuộc Bộ Tư pháp về cải cách tư pháp và luật tố tụng dân sự Trung Quốc (2003, 2004).
- Cuốn sách Khái quát hệ thống pháp luật Hoa Kỳ do Vũ Thế Hùng dịch (NXB Chính trị quốc gia, 2006) và các bài nghiên cứu về Tòa án tối cao Hoa Kỳ của Peter J. Messitte, Jack Greenberg, John Paul Jones, Louis D. Brandies, A.E Dick Howard, Robert S.
Vị trí của luận án: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó nhưng không phân tán sang thủ tục tái thẩm hay án kinh tế, luận án tập trung làm sáng tỏ bản chất giám đốc thẩm dân sự trong một công trình chuyên khảo tiến sĩ độc lập, kết hợp nghiên cứu lý luận, luật học so sánh và dữ liệu thực tiễn áp dụng BLTTDS năm 2004 giai đoạn 2004 - 2008.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:
- Lý thuyết về công lý và quyền lực tư pháp: Sử dụng quan điểm của luật gia La Mã Ulpian (jus bắt nguồn từ justitia, jurisprudentia là nhận thức về sự công bằng), học thuyết phân chia quyền lực của Montesquieu về quyền tư pháp và quyền xét xử, quan điểm của Ghéc-xen về sự bình đẳng trước tòa án.
- Nguyên tắc Res judicata (hiệu lực của bản án chung thẩm) và yêu cầu khách quan phải thiết lập thủ tục đặc biệt để sửa chữa các sai sót pháp luật nghiêm trọng mà không làm triệt tiêu tính ổn định của phán quyết tư pháp.
- Khung lý thuyết cấu thành quan hệ pháp luật tố tụng dân sự trong giám đốc thẩm:
- Chủ thể: Gồm bên tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, người có thẩm quyền kháng nghị) và bên tham gia tố tụng (đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự).
- Khách thể: Không phải là quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp giữa các bên (vụ việc dân sự), mà là việc giải quyết nhằm làm sáng tỏ tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
- Nội dung: Tổng hợp các quyền chủ quan và nghĩa vụ pháp lý đặc thù của các chủ thể trong giai đoạn giám đốc thẩm.
- Năm yếu tố cốt lõi định danh thủ tục giám đốc thẩm dân sự: Đối tượng và mục đích; Thẩm quyền giám đốc thẩm; Thẩm quyền của cơ quan và người tiến hành tố tụng; Cơ sở phát sinh; Thủ tục giải quyết.
- Khái niệm do tác giả xây dựng: "Giám đốc thẩm dân sự là một thủ tục đặc biệt để xét lại bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có sai lầm hoặc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án."
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam (trọng tâm là Nghị quyết 49-NQ/TW).
- Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật và tổng hợp lý luận.
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu mô hình giám đốc thẩm của Việt Nam với thủ tục phá án của Pháp (cassation), lệnh xem xét lại vụ án của Hoa Kỳ (writ of certiorari theo "nguyên tắc bốn" - Rule of Four), thủ tục giám đốc thẩm của Liên bang Nga, và thủ tục phúc thẩm Jokoku của Nhật Bản.
- Phương pháp lịch sử - cụ thể: Khảo sát quá trình tiến hóa của thủ tục xét lại bản án từ thời phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, qua các giai đoạn 1945 - 1959, 1959 - 1981, 1989 đến BLTTDS năm 2004.
- Phương pháp thống kê pháp lý: Thu thập, tổng hợp và xử lý số liệu xét xử giám đốc thẩm toàn ngành Tòa án từ năm 2004 đến năm 2008.
Nguồn dữ liệu:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Bộ Hình thư, Bộ luật Hồng Đức (triều Lê), Đạo dụ năm 1645, Khám tụng điều lệ năm 1777, Hoàng triều luật lệ năm 1815, Đại Nam hội điển sự lệ năm 1843; Sắc lệnh số 13 (1946), Sắc lệnh số 51/SL (1946), Sắc lệnh số 185/SL (1948), Sắc lệnh số 85/SL (1950); Thông tư 312 (1958), Thông tư liên tịch số 002/TT và 04/TT (1959); Luật Tổ chức TAND năm 1960; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; BLTTDS năm 2004.
- Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân và các tập số liệu thống kê xét xử giám đốc thẩm dân sự của TANDTC và TAND cấp tỉnh giai đoạn 2004 - 2008.
- Các văn bản pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài và phán quyết tư pháp quốc tế (như án lệ Brown kiện Hội đồng giáo dục năm 1951 tại Hoa Kỳ).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự
Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận về thiết chế giám đốc thẩm thông qua 3 tiểu mục chính:
- Khái niệm giám đốc thẩm:
- Phân tích 3 quan điểm hiện hành trong khoa học pháp lý Việt Nam: quan điểm coi giám đốc thẩm là một giai đoạn tố tụng kiểm tra tính hợp pháp/có căn cứ; quan điểm coi giám đốc thẩm là một trình tự đặc biệt khi có kháng nghị vì vi phạm nghiêm trọng; và quan điểm bổ sung căn cứ sai lầm nhận định sự kiện. Tác giả chỉ ra kháng nghị chỉ là hình thức tố tụng, đồng thời xác lập định nghĩa mới dựa trên 5 yếu tố cốt lõi.
- Phân biệt giám đốc thẩm với "giám đốc xét xử": Giám đốc xét xử là hoạt động quản lý nghiệp vụ, kiểm tra rộng hơn (bao gồm giải quyết khiếu nại, thanh tra, tổng kết án, hướng dẫn xét xử); còn giám đốc thẩm là thủ tục tố tụng tư pháp cụ thể để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
- So sánh quốc tế về đối tượng, mục đích, thẩm quyền, cơ sở phát sinh và thủ tục:
- Về đối tượng: Đều hướng vào các bản án, quyết định đã có hiệu lực hoặc bản án chung thẩm/phúc thẩm.
- Về cơ cấu Tòa án có thẩm quyền: Hai xu hướng chính gồm mô hình tập trung ở một Tòa án duy nhất như Tòa phá án tại Pháp, Tòa án tối cao tại Hoa Kỳ; và mô hình phân tán ở nhiều cấp Tòa án như Liên bang Nga và Việt Nam (Việt Nam có 3 cấp gồm Ủy ban Thẩm phán cấp tỉnh, Tòa Dân sự TANDTC, Hội đồng Thẩm phán TANDTC).
- Về cơ chế thụ lý: Hoa Kỳ áp dụng lệnh xét lại vụ án (Certiorari) theo "nguyên tắc bốn" (4/9 thẩm phán Tối cao đồng ý); Pháp ràng buộc trách nhiệm người kháng cáo (phải qua luật sư Tòa Tối cao, có thể bị phạt tiền đến 20.000 Franc nếu lạm dụng quyền); Nga quy định thủ tục thẩm phán nghiên cứu sơ bộ ra quyết định chuyển hoặc từ chối chuyển hồ sơ; Nhật Bản quy định Tòa sơ thẩm kiểm tra tính hợp thức của đơn Jokoku.
- Về tính công khai: Hầu hết các quốc gia (Pháp, Nga, Nhật Bản, Hoa Kỳ) đều mở phiên tòa giám đốc thẩm/phúc thẩm Jokoku công khai có sự tham gia và tranh tụng của luật sư, đương sự; trong khi Việt Nam tổ chức dưới hình thức phiên họp nội bộ không công khai.
- Ý nghĩa của giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự:
- Là biện pháp tố tụng bảo đảm giải quyết đúng pháp luật, kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động áp dụng pháp luật và phát hiện bất cập để kiến nghị sửa đổi pháp luật thực định.
- Bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phục vụ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền.
- Là nguồn tư liệu thực tiễn phục vụ công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử, đúc kết nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, đồng thời là thước đo đánh giá chất lượng, năng lực và đạo đức của đội ngũ thẩm phán.
- Đóng góp vào công tác giải thích pháp luật của TANDTC đối với các quan hệ dân sự mới phát sinh.
- Sự hình thành thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự nước ta:
- Thời kỳ phong kiến: Các triều đại Lý - Trần, Hậu Lê (Điều 672 Bộ luật Hồng Đức quy định phân cấp từ xã, huyện, phủ, đạo đến kinh), Đạo dụ 1645, Khám tụng điều lệ 1777, triều Nguyễn (Hoàng triều luật lệ 1815, Tam pháp ty tâu 3 lần lên Vua). Do luật phong kiến không tách bạch hình sự và dân sự nên giám đốc thẩm dân sự chưa hình thành độc lập.
- Thời kỳ Pháp thuộc: Thi hành chính sách chia để trị với 3 hệ thống luật thực định khác nhau (Bộ Dân luật Giản yếu 1883 tại Nam Kỳ, Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật 1936); thủ tục tố tụng bị hạn chế và phân biệt đối xử.
- Giai đoạn 1945 - 1959: Ban hành các Sắc lệnh số 13, 51/SL, 185/SL, 85/SL thiết lập Tòa án nhân dân huyện, tỉnh và Tòa phúc thẩm với cơ chế 2 cấp xét xử sơ thẩm - chung thẩm. Thủ tục "tiêu án" bước đầu xuất hiện trong tố tụng hình sự qua Thông tư số 312 (1958), Thông tư liên tịch số 002/TT và 04/TT (1959) của Bộ Tư pháp và TANDTC dựa trên báo cáo của Tòa án tỉnh.
- Giai đoạn 1959 - 1981: Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức TAND năm 1960 tách TANDTC khỏi Bộ Tư pháp, thành lập Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh và TANDTC, đánh dấu sự hình thành chính thức của các cơ quan có chức năng xét xử giám đốc thẩm.
Chương 2: Qui định về giám đốc thẩm dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
Chương 2 phân tích toàn diện các quy định của BLTTDS năm 2004 trên 3 phương diện chế định:
- Kháng nghị giám đốc thẩm:
- Căn cứ kháng nghị: Phân tích các điều kiện phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án; sai lầm trong việc áp dụng pháp luật nội dung hoặc pháp luật tố tụng dẫn đến xâm phạm quyền lợi đương sự.
- Thẩm quyền kháng nghị: Quy định thuộc về Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC (đối với bản án, quyết định của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC), Chánh án TAND cấp tỉnh và Viện trưởng VKSND cấp tỉnh (đối với bản án, quyết định của TAND cấp huyện).
- Cơ chế xử lý đơn: Đơn đề nghị của đương sự không có giá trị bắt buộc mở phiên tòa như đơn khởi kiện sơ thẩm hay đơn kháng cáo phúc thẩm, mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự xem xét của chủ thể có quyền kháng nghị.
- Xét xử giám đốc thẩm dân sự:
- Hội đồng xét xử: Hội đồng 3 Thẩm phán tại Tòa Dân sự TANDTC; tập thể Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh; tập thể Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Thành viên xét xử hoàn toàn là thẩm phán chuyên nghiệp (không có hội thẩm nhân dân).
- Hình thức phiên tòa: Quy định mang tính đóng kín (phiên họp nội bộ), chỉ có sự tham gia bắt buộc của đại diện Viện kiểm sát; đương sự và luật sư chỉ tham gia khi Tòa án triệu tập nếu thấy thực sự cần thiết (trên thực tế hầu như không được triệu tập).
- Quyết định giám đốc thẩm:
- Phân tích 3 thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm theo quy định của BLTTDS năm 2004:
- Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
- Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa.
- Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại.
- So sánh với quy định cũ trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989: BLTTDS năm 2004 đã bãi bỏ quyền sửa đổi bản án, quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm, dẫn đến hệ quả nhiều vụ án bị hủy đi xét lại nhiều lần làm kéo dài thời gian tố tụng.
Chương 3: Thực tiễn thi hành và một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật, nâng cao hiệu quả giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự
Chương này trình bày dữ liệu thực tiễn và hệ thống giải pháp:
- Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật (giai đoạn 2004 - 2008):
- Luận án xây dựng và phân tích 4 biểu thống kê chuyên đề:
| Ký hiệu biểu |
Tên bảng/biểu số liệu thực tiễn trong luận án |
Trang tài liệu |
| Biểu 3.1 |
Kết quả giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm các vụ việc dân sự của TANDTC và TAND cấp tỉnh từ năm 2004 đến 2008 |
Trang 115 |
| Biểu 3.2 |
Tỷ lệ vụ việc dân sự giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và các vụ việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm thời kỳ 2004 – 2008 |
Trang 119 |
| Biểu 3.3 |
Tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm được chấp nhận thời kỳ 2004 – 2008 |
Trang 121 |
| Biểu 3.4 |
Tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC được chấp nhận |
Trang 132 |
- Nhận diện các hạn chế, tồn tại: Tình trạng quá tải đơn khiếu nại giám đốc thẩm; tỷ lệ giải quyết đơn còn thấp; tình trạng chậm trễ chuyển hồ sơ; thẩm quyền xét xử phân tán ở cả cấp tỉnh và cấp tối cao; hiện tượng xung đột quan điểm kháng nghị giữa Tòa án và Viện kiểm sát; tình trạng bản án bị hủy nhiều lần quay trở lại vòng tố tụng sơ thẩm - phúc thẩm.
- Phương hướng và giải pháp hoàn thiện:
- Phương hướng: Bám sát Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; xây dựng mô hình Tòa án theo thẩm quyền xét xử, tinh gọn TANDTC tập trung vào chức năng giám đốc thẩm, tổng kết xét xử và phát triển án lệ.
- Giải pháp sửa đổi BLTTDS:
- Phân định lại thẩm quyền kháng nghị và xét xử giám đốc thẩm, tập trung về Tòa án cấp cao/Tòa án thượng thẩm và Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
- Đổi mới quy trình thụ lý và xem xét đơn đề nghị giám đốc thẩm của đương sự, thiết lập tiêu chí sàng lọc rõ ràng.
- Mở rộng nguyên tắc tranh tụng: quy định phiên tòa giám đốc thẩm được tiến hành công khai, triệu tập bắt buộc đương sự và luật sư tham gia tranh tụng khi xét xử các vấn đề pháp lý phức tạp.
- Bổ sung thẩm quyền cho Hội đồng giám đốc thẩm: cho phép Hội đồng giám đốc thẩm được sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp các tình tiết, chứng cứ của vụ án đã được thu thập đầy đủ, rõ ràng nhưng Tòa án cấp dưới áp dụng sai pháp luật.
- Nâng cao hiệu lực bắt buộc của quyết định giám đốc thẩm đối với các cấp Tòa án xét xử lại.
- Giải pháp nâng cao chất lượng công tác xét xử:
- Sử dụng kết quả giám đốc thẩm (số lượng án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan) làm tiêu chí bắt buộc để đánh giá năng lực, phẩm chất, quy hoạch và bổ nhiệm lại thẩm phán.
- Tổng kết thực tiễn giám đốc thẩm để kịp thời xây dựng các Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
- Công bố công khai các quyết định giám đốc thẩm của TANDTC để phục vụ công tác nghiên cứu, giám sát của xã hội và thống nhất nhận thức pháp luật.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ bản chất pháp lý, đặc điểm, khách thể, chủ thể và nội dung của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự trong giai đoạn giám đốc thẩm.
- Xây dựng một định nghĩa mới về giám đốc thẩm dân sự, phản ánh toàn diện chức năng xét lại bản án có hiệu lực pháp luật khi có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
- Phân định ranh giới lý luận giữa "giám đốc thẩm" (hoạt động tố tụng tư pháp) và "giám đốc xét xử" (hoạt động quản lý nghiệp vụ tòa án).
- Luận giải 4 nhóm ý nghĩa cốt lõi của thủ tục giám đốc thẩm đối với việc bảo vệ quyền công dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bồi dưỡng cán bộ và giải thích áp dụng thống nhất pháp luật.
Về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Đánh giá toàn diện thực trạng thi hành các quy định về giám đốc thẩm của BLTTDS năm 2004 qua hệ thống dữ liệu thống kê giai đoạn 2004 - 2008 của TANDTC và TAND cấp tỉnh.
- Đề xuất sửa đổi, bổ sung BLTTDS:
- Phân định rõ thẩm quyền kháng nghị và thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm nhằm khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo.
- Đổi mới thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm theo hướng công khai hóa và tăng cường tranh tụng với sự tham gia của đương sự, luật sư.
- Bổ sung thẩm quyền cho Hội đồng giám đốc thẩm được sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi chứng cứ đã rõ ràng.
- Nâng cao giá trị hiệu lực thi hành của các phán quyết giám đốc thẩm đối với cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
- Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện:
- Thiết lập cơ chế dùng kết quả hủy, sửa án tại cấp giám đốc thẩm làm tiêu chí đánh giá năng lực và quy hoạch đội ngũ thẩm phán.
- Sử dụng kho dữ liệu quyết định giám đốc thẩm để đúc kết, ban hành các Nghị quyết hướng dẫn xét xử của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
- Thực hiện việc công bố rộng rãi các quyết định giám đốc thẩm để nhân dân giám sát hoạt động tư pháp và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án giới hạn phạm vi khảo sát số liệu thực tiễn xét xử trong mốc thời gian từ năm 2004 đến năm 2008 (giai đoạn đầu áp dụng BLTTDS năm 2004).
- Nghiên cứu tập trung vào thủ tục giám đốc thẩm đối với tranh chấp dân sự nói chung, chưa mở rộng phân tích độc lập đối với các vụ việc mang tính chuyên biệt sâu như hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại hoặc lao động.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu thực tiễn áp dụng thiết chế giám đốc thẩm khi hệ thống Tòa án được tái cấu trúc hoàn chỉnh theo mô hình Tòa án 4 cấp (thành lập Tòa án nhân dân cấp cao/Tòa án thượng thẩm) theo định hướng Nghị quyết 49-NQ/TW.
- Nghiên cứu cơ chế chuyển hóa các quyết định giám đốc thẩm tiêu biểu của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thành án lệ áp dụng bắt buộc trong toàn ngành Tòa án.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự: Cung cấp tài liệu hệ thống hóa lịch sử lập pháp tố tụng dân sự Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến năm 2004, hệ thống lý luận so sánh với mô hình tố tụng của Pháp, Nga, Nhật Bản, Hoa Kỳ.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên: Cung cấp luận cứ phân tích về căn cứ kháng nghị, nhận diện sai sót trong áp dụng pháp luật, quy trình giải quyết đơn và kỹ năng điều hành phiên họp/phiên tòa giám đốc thẩm.
- Cơ quan lập pháp và các cơ quan chỉ đạo cải cách tư pháp: Cung cấp cơ sở thực tiễn và hệ thống kiến nghị sửa đổi BLTTDS cùng Luật Tổ chức TAND về việc phân định thẩm quyền giám đốc thẩm và bổ sung quyền hạn cho Hội đồng xét xử giám đốc thẩm.
Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm: Bảng so sánh kinh nghiệm thụ lý và tranh tụng giám đốc thẩm quốc tế tại Chương 1; Đánh giá bất cập của BLTTDS năm 2004 tại Chương 2; Hệ thống 4 biểu thống kê thực tiễn xét xử giai đoạn 2004 - 2008 tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm giám đốc thẩm dân sự được tác giả luận án định nghĩa như thế nào?
Trả lời: Tác giả xây dựng định nghĩa: "Giám đốc thẩm dân sự là một thủ tục đặc biệt để xét lại bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có sai lầm hoặc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án." Khái niệm này khẳng định giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử thứ ba mà là thủ tục đặc biệt, có đối tượng là bản án/quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
2. Khách thể của quan hệ pháp luật trong giám đốc thẩm dân sự khác gì so với thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm?
Trả lời: Trong thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm, khách thể là việc giải quyết quan hệ pháp luật nội dung đang có tranh chấp giữa các đương sự. Trong thủ tục giám đốc thẩm, do bản án đã có hiệu lực pháp luật, khách thể chuyển thành việc làm sáng tỏ tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đó (xem xét bản án có sai lầm không, mức độ sai lầm và có cần thiết phải hủy bỏ hay không).
3. Quyền làm đơn đề nghị của đương sự trong giám đốc thẩm khác biệt như thế nào so với đơn khởi kiện sơ thẩm và đơn kháng cáo phúc thẩm?
Trả lời: Đơn khởi kiện hợp lệ ở cấp sơ thẩm hoặc đơn kháng cáo hợp lệ ở cấp phúc thẩm phát sinh giá trị pháp lý bắt buộc Tòa án phải thụ lý đưa vụ án ra xét xử. Ngược lại, đơn đề nghị giám đốc thẩm của đương sự chỉ mang tính chất đề nghị, cung cấp thông tin để người có thẩm quyền xem xét; nếu người có thẩm quyền thấy không có căn cứ vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì sẽ bác đơn mà không bắt buộc phải mở phiên tòa.
4. Thủ tục xem xét đơn và quyết định thụ lý tại Tòa án tối cao Hoa Kỳ được luận án điểm lại theo nguyên tắc nào?
Trả lời: Tại Hoa Kỳ, Tòa án tối cao sử dụng lệnh xem xét lại vụ án (Certiorari / Cert). Việc chấp nhận thụ lý xem xét lại một vụ án được thực hiện theo "nguyên tắc bốn" (Rule of Four) - tức chỉ cần có ít nhất 4 trong số 9 thẩm phán Tối cao tán thành thì lệnh xem xét lại sẽ được ban hành và đưa vào danh sách tranh luận.
5. Tác giả luận án đề xuất những quyền hạn nào cho Hội đồng giám đốc thẩm nhằm khắc phục tình trạng vụ án bị xử đi xử lại nhiều lần?
Trả lời: Tác giả đề xuất sửa đổi BLTTDS theo hướng bổ sung lại quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cho Hội đồng giám đốc thẩm (tương tự như quy định trong Pháp lệnh năm 1989 trước đây) đối với các vụ án đã được điều tra, xác minh và thu thập chứng cứ đầy đủ nhưng Tòa án cấp dưới áp dụng sai quy định pháp luật, nhằm tránh việc hủy án để điều tra, xét xử lại từ đầu gây kéo dài thời gian tố tụng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Mai Ngọc Dương đã nghiên cứu một cách toàn diện thiết chế giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam trên cả phương diện lý luận, lịch sử, so sánh quốc tế và dữ liệu thực tiễn giai đoạn 2004 - 2008. Công trình đã làm rõ bản chất đặc thù của quan hệ pháp luật giám đốc thẩm, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng án dân sự bị xét xử kéo dài và quá tải đơn khiếu nại dưới thời kỳ thi hành BLTTDS năm 2004. Các đề xuất về việc tinh gọn thẩm quyền, mở rộng nguyên tắc tranh tụng công khai và trao quyền sửa án cho Hội đồng giám đốc thẩm là những đóng góp khoa học có giá trị phục vụ trực tiếp cho việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự và tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam.