Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản là QSDĐ của hộ gia đình, cá nhân Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản là QSDĐ của các hộ gia đình, cá nhân tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hòa Bình Chương 3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản là QSDĐ của các hộ gia đình, cá nhân từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hòa Bình.
8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN 1.1 Một số khái niệm chung 1. Khái niệm QSDĐ Như chúng ta đã biết đất đai có nguồn gốc tự nhiên, con người xuất hiện và tác động vào đất đai, cải tạo đất đai và biến đất đai từ sản phẩm của tự nhiên lại mang trong mình sức lao động của con người, tức cũng là sản phẩm của của xã hội. Đất đai là một tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng mang yếu tố quyết định cho sự phát triển và tồn tại của con người và các sinh vật khác trên trái đất nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia.
Đối với Việt Nam, đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay. Chính bởi vậy, nhằm đảm bảo cho việc quản lý và khai thác tối đa các lợi ích mà đất đai mang lại cho con người, pháp luật của nước ta cũng có những quy định chặt chẽ về QSDĐ của cá nhân, tổ chức, hộ gia đình nhằm xác lập cho những người trực tiếp sử dụng đất những quyền và lợi ích nhất định, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người sử dụng đất phát huy năng lực tự chủ trong quá trình sử dụng đất. Hiến pháp năm 2013 đã kh ng định Đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý, là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật Người sử dụng đất được chuyển QSDĐ, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật.
QSDĐ được pháp luật bảo hộ. 9 Hiện thực hóa Hiến pháp năm 2013, Điều 4 LĐĐ 2013 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao QSDĐ cho người sử dụng đất theo quy định của luật này” Cùng với đó, với vai trò chủ sở hữu đại diện, Nhà nước có quyền định đoạt đất đai thông qua hàng loạt các quyền như: Quyền quyết định mục đích, thời hạn, hạn mức sử dụng đất; quyền phân bổ đất đai thông qua các hoạt động giao đất cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; thực hiện quản lý nhà nước ở cả phương diện hành chính và kinh tế thông qua việc điều tiết các nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất, điều tiết các thu nhập đối với người sử dụng đất và thực hiện quyền giải quyết các tranh chấp, bất đồng, các khiếu nại, tố cáo về đất đai. Khác với các nước thực hiện quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai, thì Việt Nam duy trì, thiết lập chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thì QSDĐ được tiếp cận có phần khác biệt hơn.
Theo đó, QSDĐ vừa mang tính phụ thuộc vào quyền sở hữu đất đai của Nhà nước, được phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu của Nhà nước và cũng bị chi phối bởi quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai. Các QSDĐ của mỗi tổ chức, cá nhân có được xác lập hay không là phụ thuộc vào quyền sở hữu đất đai của Nhà nước, được phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu của Nhà nước và cũng bị chi phối bởi quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai. Các QSDĐ của mỗi tổ chức, cá nhân có được xác lập hay không là dựa trên cơ sở sự chuyển giao hoặc cho phép của Nhà nước mới có được. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác và sử dụng đất ấy, QSDĐ của mỗi chủ thể lại mang tính độc lập tương đối, chúng được thoát ly ra khỏi quyền sở hữu và trở thành một chế định độc lập trong quan hệ với Nhà nước và chủ thể khác, người có QSDĐ được Nhà nước xác lập có quyền chủ động khai thác và sử dụng cho các nhu cầu và mục đích khác nhau.
Như vậy có thể khái quát QSDĐ là quyền khai thác các thuộc tính của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu của cá nhân, tổ chức hoặc Nhà nước chủ quyền. LĐĐ năm 2013 nêu rõ, đất đai là tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Nhà nước quản lý đất đai thông qua các quyết định trao quyền sử dụng dưới nhiều hình thức cho các đối tượng nhận QSDĐ như: Giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ và họ trở thành 10 người có QSDĐ chứ không phải người có quyền sở hữu đất đai. Khi chuyển giao đất cho người sử dụng đất, tùy thuộc vào các hình thức sử dụng đất khác nhau mà Nhà nước cho phép các chủ thể sử dụng đất khác nhau được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Bên cạnh đó, người sử dụng đất được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến đất đai theo quy định của pháp luật. Tuy LĐĐ quy định quyền sở hữu thuộc về Nhà nước, nhưng thực chất QSDĐ cũng bao gồm quyền sở hữu đất đai một cách hợp pháp. Nhà nước không chỉ trao quyền sử dụng mà còn trao quyền định đoạt cho người sử dụng thông qua các hình thức giao dịch đa dạng như: chuyển nhượng, thừa kế, góp vốn, tặng cho hoặc từ bỏ quyền sử dụng (trả lại cho Nhà nước). Như vậy, chủ thể thực hiện QSDĐ với tư cách là chủ thể sử dụng đất chứ không phải với tư cách chủ sở hữu.
Với tư cách là người đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai thông qua các quyền năng được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện, đó là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tuy nhiên, không phải tự bản thân nhà nước trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất đai để khai thác những thuộc tính vốn có của đất mà Nhà nước giao cho Người sử dụng tức là giao cho Người sử dụng một trong 3 quyền năng của mình đó là QSDĐ. Nắm trong tay quyền sử dụng diện tích đất mà nhà nước giao cho, bên cạnh QSDĐ ổn định, lâu dài, người sử dụng đất còn được thực hiện các giao dịch QSDĐ của mình như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, góp vốn, thừa kế. bằng giá trị QSDĐ nhằm đảm bảo quyền lợi thiết thực cho mình.
Để đảm bảo các quyền trên của người sử dụng đất được thực hiện trên thực tế, pháp luật nước ta cũng xác lập tiền đề và điều kiện để QSDĐ của mỗi người dân được đảm bảo. Từ đây, chế định về QSDĐ được hình thành. Từ những phân tích trên ta có khái niệm: QSDĐ là chỉ những khả năng của một chủ thể được thực hiện hoặc được hưởng những quyền nhất định khi khai thác và sử dụng đất để phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của đời sống xã hội. Những quyền đó được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế.
Từ khái niệm trên ta có thể thấy chế định QSDĐ có những đặc trưng sau: 11 Thứ nhất, chế định QSDĐ phát sinh trên cơ sở chế độ sở hữu đất đai. Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; Thứ hai, QSDĐ của người sử dụng đất mang tính phụ thuộc vào Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu; Thứ ba, QSDĐ của người sử dụng đất mang tính độc lập tương đối với quyền sở hữu đại diện của Nhà nước về đất đai. Từ các phân tích và nhận định nêu trên cho thấy rằng QSDĐ dù được chế định với ý nghĩa là một trong các quyền cơ bản của quyền sở hữu đất đai hay QSDĐ được chế định với ý nghĩa là một quyền độc lập của người sử dụng đất thì suy cho cùng, QSDĐ ở Việt Nam cũng được phát sinh trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Sự đa dạng về nội dung QSDĐ là phụ thuộc chủ yếu vào chế độ sở hữu.
Xét cho cùng, QSDĐ là quyền phái sinh, quyền thứ hai, quyền phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu đất đai. Điều này cũng minh chứng rõ vì sao, khi nghiên cứu các chế định cụ thể về QSDĐ của người sử dụng đất, các quyền của người sử dụng đất luôn thể hiện mối quan hệ gắn bó mật thiết, bị chi phối, ràng buộc chặt chẽ với quyền sở hữu; theo đó, Nhà nước với vai trò chủ sở hữu đại diện của mình luôn thể hiện sự định hướng, quản lý, kiểm soát và thậm chí là thể hiện sự can thiệp sâu vai trò của mình đối với các chủ thể khi thực hiện QSDĐ. Khái niệm thừa kế QSDĐ và tranh chấp thừa kế QSDĐ của hộ gia đình và cá nhân 1. Khái niệm thừa kế QSDĐ Thừa kế hiểu theo nghĩa chung nhất là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống, với ý nghĩa là phạm trù kinh tế, có mầm mống xuất hiện và tồn tại ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, ban đầu thừa kế được tiến hành trên cơ sở huyết thống, phong tục, tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định.