Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua thực tiễn tại Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. 12 Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 13 Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đối với trƣờng hợp đất chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1. Lý luận chung về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đối với trƣờng hợp đất chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.
Khái niệm tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân. Tuy nhiên các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai không phải lúc nào cũng nhất trí với nhau về tất cả vấn đề trong quan hệ pháp luật, vì thế sẽ xuất hiện những ý kiến khác nhau, những mâu thuẫn, những bất đồng nhất định. Điều này cho thấy tính phổ biến và phức tạp của các tranh chấp đất đai đã tồn tại từ lâu và có thể xảy ra ở bất cứ đâu.
Hiện tượng đó được thể hiện trên thực tế bằng những hành động cụ thể và người ta gọi đó là sự tranh chấp. Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ tranh chấp được hiểu là sự đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên 1. Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) và pháp luật về đất đai. Khi giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ngoài việc áp dụng những quy định của BLDS về thừa kế còn phải áp dụng những quy định của pháp luật đất đai.
Theo nghĩa này, có thể hiểu chủ thể của tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là những người được hưởng di sản thừa kế với nhau hoặc giữa người được hưởng thừa kế với bên thứ ba trong quan hệ thừa kế. Trong tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, nguyên nhân của việc tranh giành nhau xuất phát từ những bất đồng, mâu thuẫn, xung đột trong cách phân chia di sản thừa kế. Tức là, giữa những người thừa kế không thoả thuận được với nhau dẫn đến xảy ra mâu thuẫn, xung đột trong việc xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp đối với phần di sản là thửa đất mà người chết 1 Trung tâm Từ điển học 2010 , Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội, tr 1313. 14 để lại cho từng người một có quyền hưởng thừa kế.
Cùng với đó, những người thừa kế đưa ra lý lẽ lập luận nhằm chứng minh những vấn đề có lợi nhất cho mình về quyền thừa kế đối với khối di sản được hưởng, đồng thời nhằm phủ nhạn, giảm bớt quyền đó của người được hưởng thừa kế khác, hoặc của bên thứ ba trong quan hệ thừa kế. Thông thường, nếu giá trị di sản thừa kế để lại không lớn, nội dung di chúc của người chết để lại đầy đủ, rõ ràng hoặc giữa những người thừa kế có cách hiểu thống nhất về di chúc thì giữa các chủ thể có thể thoả thuận, thương lượng giải quyết. Tuy nhiên, trên thực tế, khi di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thường có giá trị lớn thì bất đồng, mâu thuẫn hay sự vi phạm của một trong các bên được hưởng di sản để lại những tổn thất và thiệt hại nặng nề cho những người thừa kế khác mà các bên không thể thoả thuận được với nhau, hoặc giữa các bên có cách hiểu khác nhau về cách phân chia di sản trong nội dung di chúc thì tranh chấp là hệ quả tất yếu không tránh được. Bởi vì mục đích cuối cùng của việc phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất là xác lập quyền sử dụng đất cho từng người hưởng thừa kế tương ứng với phần tài sản trong khối di sản chung của người chết để lại.
Theo giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai 2 Theo giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Huế khẳng định: Tranh chấp đất đai là các mâu thuẫn, xung đột giữa các chủ thể sử dụng đất khi họ cho rằng các quyền và lợi ích hợp pháp về quyền sử dụng đất của mình bị xâm hại 3. Theo khoản 24, Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 giải thích: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Khái niệm tranh chấp đất đai tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 có phạm vi rộng, có thể được hiểu bao gồm các tranh chấp về quyền sử dụng đất như tranh chấp về ranh giới, tranh chấp đòi lại đất,… ; tranh chấp quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình thực hiện các hợp đồng về quyền sử dụng đất như yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, công nhận hiệu lực của hợp 2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 401. Trần Quang Huy chủ biên (2013), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 341.
15 đồng, tuyên bố hợp đồng vô hiệu… ; tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn; tranh chấp về quyền thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất… Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất thường xảy ra với nhiều trường hợp, trong đó có trường hợp đất tranh chấp thừa kế chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013. Vì vậy, trên thực tế, không hiếm trường hợp người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCNQSDĐ đối với thửa đất đang sử dụng, điều này xuất phát từ nhiều lý do khách quan và lý do chủ quan khác nhau. Khi người sử dụng đất để lại thừa kế nhưng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất viết tắt là Giấy chứng nhận thì có được xác định là di sản thừa kế hay không sẽ phụ thuộc nhiều yếu tố.
Dựa trên các quan niệm chung về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một cách giải thích về khái niệm tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất mà thửa đất tranh chấp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Khái niệm giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giải quyết tranh chấp nói chung hay giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói riêng là phương thức nhằm hoá giải bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người hưởng thừa kế. 16 Theo Từ điển Tiếng Việt thì: Giải quyết: là làm cho đạt được kết quả, không còn khó khăn, trở ngại nữa 4.
Nếu theo nghĩa trên, có thể hiểu giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là hoạt động của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét và đưa ra quyết định xử lý các bất đồng, mâu thuẫn của các bên trong quan hệ thừa kế trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp. Nếu quyền và lợi ích của các bên tranh chấp bị xâm hại, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ phục hồi quyền và lợi ích cho bên bị xâm hại, đồng thời buộc bên vi phạm phải gành chịu hậu quả pháp lý do hành vi bất hợp pháp của mình gây ra. Theo giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Huế: Giải quyết tranh chấp đất đai trước hết là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, giữa nhân dân với tổ chức và giữa các tổ chức sử dụng đất với nhau để qua đó phục hồi các quyền lợi bị xâm phạm; đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai 5.