Chương I Hiến chương. Theo đó, để giải quyết tranh chấp quốc tế, Hiến chương khẳng định việc ưu tiên sử dụng các biện pháp 15 z hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế bao gồm biện pháp bằng con đường ngoại giao như đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải hoặc bằng con đường của các cơ quan tài phán như trọng tài, tòa án hoặc những tổ chức, hiệp định khu vực, chỉ trong trường hợp cần thiết trong khuôn khổ của Hiến chương, các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường vũ trang hoặc phi vũ trang khác mới được áp dụng. Việc quy định các biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế tại Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc còn là sự thể hiện mối quan hệ đồng nhất giữa các quy định khác của Hiến chương nhằm thực hiện mục tiêu giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế của Liên hợp quốc. Mối quan hệ giữa Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc với nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất của Luật Quốc tế, là nghĩa vụ pháp lý của tất cả các quốc gia và chủ thể khác của Luật Quốc tế.
Về phương diện khoa học Luật Quốc tế, hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung đối với mọi chủ thể của Luật Quốc tế trong giải quyết các tranh chấp quốc tế, bao gồm những cơ chế, biện pháp hoặc phương thức được các chủ thể luật quốc tế sử dụng nhưng không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Hiến chương Liên hợp quốc ra đời, theo đó, ngay tại Điều 2 Khoản 3 Hiến chương đã quy định: Tất cả các Thành viên giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, theo cách không làm nguy hại đến hòa bình và an ninh quốc tế, và công lý. Như vậy, theo Hiến chương Liên hợp quốc, hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, là nghĩa vụ pháp lý của tất cả các quốc gia và chủ thể khác của Luật Quốc tế. Mặt khác, cùng với những quy định cơ bản về mục đích, nguyên tắc, cơ cấu tổ chức hoạt động của Liên hợp quốc, quy chế thành viên, các cơ quan chính của Liên hợp quốc, Hiến chương cũng đã xác lập hệ thống biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế tại Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc.
Với ý nghĩa là văn bản pháp lý có giá trị điều chỉnh cao, việc cụ thể hóa các biện pháp để giải quyết hòa bình tranh 16 z chấp quốc tế tại Điều 33 của Hiến chương cũng chính là sự cụ thể hóa của nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp trên thực tế. Mối quan hệ giữa Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc với nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế được thể hiện không chỉ trong Hiến chương Liên hợp quốc mà còn trong cả các văn bản pháp lý quốc tế khác, cụ thể: Tại Điều 1 tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc ngày 24/10/1970, khi quy định về nội dung của nguyên tắc hòa bình giải quyết tranhh chấp có nêu rõ “.Mọi quốc gia do vậy sẽ tìm kiếm và chỉ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài hoặc tòa án; sử dụng trung gian khu vực, thỏa thuận hoặc bằng những biện pháp hòa bình khác do các bên lựa chọn”. Điều 279 Mục 1 Chương XV Công ước Luật Biển năm 1982 cũng quy định: “ Các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ra giữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các biện pháp hòa bình theo đúng Điều 2 Khoản 3 Hiến chương Liên hợp quốc, và vì mục đích này, cần phải tìm ra giải pháp bằng các biện pháp đã được nêu tại Điều 33, khoản 1 của Hiến chương”. Có thể nói, trong luật pháp quốc tế, việc sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp được nêu tại Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc chính là một trong những yêu cầu của việc tuân thủ nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế.
Là tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh, Liên hợp quốc đảm bảo mọi quy định của Hiến chương Liên hợp quốc đều được các quốc gia thành viên cũng như không phải thành viên tuân thủ thực hiện. Chính vì vậy, việc quy định các biện pháp giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế tại Điều 33 Hiến chương cũng chính là một trong những biện pháp nhằm hiện thực hóa nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp trên thực tiễn đời sống pháp luật. Ý nghĩa của Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc trong giải quyết tranh chấp quốc tế Thứ nhất, việc quy định cụ thể các biện pháp để giải quyết tranh chấp quốc tế tại Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc là cơ sở để giải quyết các xung đột, mâu 17 z thuẫn về lợi ích của các chủ thể luật quốc tế, nhằm ổn định các quan hệ quốc tế và duy trì hòa bình, an ninh quốc tế. Thứ hai, Hiến chương Liên hợp quốc được coi là văn bản pháp lý quốc tế điển hình, có hiệu lực áp dụng và thực thi cao nhất, ngay tại Khoản 6 Điều 2 Hiến chương đã quy định Liên hợp Quốc sẽ đảm bảo rằng các quốc gia không phải là thành viên cũng hành động theo những nguyên tắc này, nếu như điều đó là cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh thế giới.
Do đó, quy định này có thể được coi là một trong những vũ khí pháp lý để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể, nhất là các quốc gia đang phát triển khi tham gia quan hệ pháp lý quốc tế, tạo điều kiện cho các nước yếu thế hơn được đối xử công bằng khi phát sinh các xung đột lợi ích với quốc gia khác. Thứ ba, Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc tạo cơ sở để xây dựng các quy phạm pháp luật về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế của các điều ước quốc tế khác như quy định về giải quyết tranh chấp tại các điều ước quốc tế song phương, đa phương giữa các quốc gia hoặc của các tổ chức quốc tế. 18 z Chương 2 NỘI DUNG CỦA ĐIỀU 33 HIẾN CHƢƠNG LIÊN HỢP QUỐC 2. Các biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế phi tài phán 2.
Biện pháp đàm phán Có thể nói rằng, đàm phán giải quyết tranh chấp quốc tế thực chất là diễn đàn ngoại giao do các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba tổ chức để các bên tranh chấp thương lượng, thỏa thuận tìm kiếm giải quyết hòa bình các tranh chấp có liên quan. Thực tiễn quan hệ quốc tế tồn tại nhiều loại hình đàm phán quốc tế như tư vấn, tham vấn, tham khảo ý kiến, trao đổi ý kiến, hội nghị. Luật Quốc tế không quy định quy tắc tiến hành đàm phán, giải quyết tranh chấp mà tất cả các vấn đề liên quan đến đàm phán giải quyết tranh chấp quốc tế sẽ do các quốc gia là các bên tranh chấp chủ động xây dựng hoặc dựa vào sự tư vấn, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế hoặc các quốc gia khác. Mục đính, thành phần, cấp tham gia cũng như hình thức của đàm phán do chính các quốc gia hữu quan thỏa thuận với nhau.
Tuy nhiên, việc tiến hành đàm phán, kết quả của đàm phán phải hoàn toàn theo nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia, không dùng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Đàm phán có thể được tiến hành theo mô hình đàm phán song phương, có thể trực tiếp hoặc thông qua việc trao đổi công hàm. Đàm phán có thể diễn ra ở cấp các Nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu Chính phủ, đại diện toàn quyền của các nhà nước hoặc thông qua các hội nghị ngoại giao, các cơ quan đại diện ngoại giao của các quốc gia ở nước ngoài… Trong đó, các cuộc đàm phán cấp cao thường thảo luận các vấn đề cơ bản làm phát sinh tranh chấp giữa các quốc gia hữu quan và có vai trò quyết định. Kết quả đàm phán trực tiếp phụ thuộc rất nhiều vào uy tín, trình độ, kiến thức chuyên môn sâu rộng và uyên bác của những người thay mặt các quốc gia tham gia đàm phán.
Đàm phán giải quyết tranh chấp quốc tế thường kết thúc bằng việc các bên tranh chấp sẽ ký kết một trong các loại văn kiện quốc tế như Bản ghi nhớ (l’aide mesmoire), Nghị quyết (la resvolution, la descision); Hiệp ước, Hiệp định (le traité depaix, l’accord)…[7]. 19 z Có thể khẳng định rằng, đàm phán quốc tế trong giải quyết tranh chấp quốc tế là một biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế lâu đời, được áp dụng phổ biến và hiệu quả nhất. Bởi lẽ, đàm phán là cơ hội, điều kiện thuận lợi nhất để các bên tranh chấp trực tiếp bày tỏ quan điểm, lập trường, yêu sách của mình về vấn đề tranh chấp cùng nhau thương lượng, nhượng bộ để giải quyết. Mặt khác, giải quyết tranh chấp bằng đàm phán trực tiếp sẽ hạn chế được sự can thiệp từ bên ngoài, có khả năng làm phức tạp thêm vụ việc tranh chấp.
Đàm phán có thể được áp dụng là biện pháp khởi đầu và cũng có thể là biện pháp sau cùng để các bên giải quyết tranh chấp sau khi các bên đã giải quyết bằng các biện pháp khác. Thực tiễn các tranh chấp mà Việt Nam là một bên liên quan, từ trước đến nay, chúng ta luôn xác định đàm phán là biện pháp được áp dụng đối với mọi tranh chấp về biên giới lãnh thổ. Từ khi chưa gia nhập ASEAN, Việt Nam đã tuyên bố ủng hộ Tuyên bố của các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao các nước ASEAN ngày 18/3/1995. Trong tuyên bố của mình, Việt Nam khẳng định: “mọi tranh chấp chủ quyền đối với các quần đảo ngoài biển Đông cần phải được giải quyết thong qua thương lượng hòa bình; kêu gọi các bên liên quan kiềm chế, cam kết không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực”.