Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh, thương mại 1. Khái niệm kinh doanh, thương mại a) Khái niệm kinh doanh Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người. Hoạt động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanh như công ty, tập đoàn, tư nhân.
nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân. Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm kinh doanh. Tuy nhiên, bài viết chỉ xét khái niệm kinh doanh dưới góc độ từ điển và dưới góc độ pháp lý. Khái niệm hoạt động thương mại quy định tại khoản 1 Điều 3 LTM 2005:“Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Theo khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 có quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. b) Khái niệm thương mại Thuật ngữ “thương mại” ban đầu được dùng để chỉ các hoạt động buôn bán của các thương gia. Chính vì thế, theo nghĩa hẹp khái niệm thương mại được hiểu là hoạt động mua bán hàng hoá với mục đích kiếm lời. Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, khái niệm thương mại được mở rộng dần sang các lĩnh vực khác liên quan đến mua bán hàng hoá, ban đầu là các dịch vụ kèm theo như vận tải, bảo hiểm, thanh toán…Đến nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới khái niệm thương mại ngày càng được mở rộng ra với một nội hàm rộng lớn, bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ việc trao đổi mua bán và sản xuất hàng hóa.
7 Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Tóm lại, Hoạt động kinh doanh, thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Khái niệm này được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây cùng với sự nhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc của cơ chế kế hoạch hóa đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lý của người Việt Nam.
Dưới góc độ pháp lý: Tranh chấp được hiểu là những xung đột, bất đồng về quyền, quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Tại điều 238 Luật Thương mại năm 1997 quy định “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Luật Thương mại 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 định nghĩa “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đich sinh lợi khác” (điều 3 khoản 1 Luật Thương mại 2005) nhưng không đưa ra khái niệm về tranh chấp kinh doanh thương mại. Tuy nhiên lại đưa ra các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại.
Như vậy, có thể hiểu tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại. Và theo quan điểm của tác giả, có thể định nghĩa một cách ngắn gọn đối 8 với tranh chấp kinh doanh, thương mại như sau: “Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia các quá trình của hoạt động kinh doanh, thương mại”. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại. Từ những phân tích về cách hiểu của nội hàm tranh chấp KDTM như trên có thể cho thấy tranh chấp KDTM là các tranh chấp bao hàm các đặc điểm pháp lý sau: Thứ nhất, chủ thể trong tranh chấp KDTM là các chủ thể tham gia hoạt động KDTM bao gồm các chủ thể tham gia toàn bộ quá trình từ lao động sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các dịch vụ trên thị trường, các hoạt động xúc tiến, đầu tư thương mại, cung ứng dịch vụ trên thị trường và các hoạt động khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Do đó, trên thực tế chủ thể của tranh chấp KDTM có thể là thương nhân hoặc các nhà đầu tư khác. Thứ hai, tranh chấp KDTM là tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện các hoạt động KDTM giữa các chủ thể, khi ít nhất một bên cho là quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình bị bên kia xâm phạm, và yêu cầu phải được giải quyết. Thứ ba, tranh chấp KDTM chủ yếu là những tranh chấp phát sinh trong hợp đồng đã cam kết giữa các bên (hợp đồng thương mại, góp vốn thành lập công ty, mua bán chứng khoán. Nguyên nhân hình thành tranh chấp kinh doanh, thương mại Trên thực tế, các tranh chấp kinh doanh, thương mại xảy ra rất đa dạng, phức tạp, các tranh chấp này xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Tuy nhiên, ta có thể thấy, một số nguyên nhân cơ bản đó là: Thứ nhất, do lợi nhuận; Thứ hai, do hạn chế kiến thức pháp luật; Thứ ba, do chưa có sự hoàn thiện của các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ tranh chấp kinh doanh, thương mại. Phân biệt tranh chấp kinh doanh, thương mại với tranh chấp dân 9 sự Trên thực tế, các tranh chấp diễn ra trong hoạt động kinh doanh, thương mại cũng như mua bán, trao đổi hàng hóa mang bản chất tương đương nhau, đồng thời ranh giới giữa hai loại tranh chấp này lại khó xác định và khá phức tạp. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khó khăn trong việc xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp này tại Tòa án. Do vậy, việc xác định một tranh chấp là tranh chấp dân sự hay tranh chấp kinh doanh thương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ việc tranh chấp.
Nếu xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ dẫn đến áp dụng sai pháp luật nội dung đối với vụ việc. Tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh thương mại có thể phân biệt ngắn gọn như sau: - Tranh chấp dân sự là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể của luật dân sự (cá nhân, pháp nhân) trong quan hệ pháp luật dân sự (về nhân thân và/hoặc tài sản). - Tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân có đăng ký kinh doanh trong hoạt động thương mại, đầu tư, kinh doanh. Trong một số trường hợp, việc xác định đâu là tranh chấp dân sự và đâu là tranh chấp kinh doanh thương mại khá phức tạp.
Cụ thể: (i) Tranh chấp phát sinh mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận. Trường hợp này, nếu căn cứ theo Khoản 1 Điều 30 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 thì đây được xác định là tranh chấp dân sự vì một bên hoặc các bên thiếu điều kiện về chủ thể là có đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, việc xác định như vậy có phần không hợp lý vì các lý do sau: - Việc một bên hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan như: chưa kịp tiến hành đăng ký kinh doanh; đã tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp hoặc bị từ chối cấp; cố ý vi phạm nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân. Điều 7 Luật thương mại 2005 quy định về nghĩa vụ đăng ký kinh doanh 10 của thương nhân: “Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật”. Như vậy, việc một bên hoặc các bên không/chưa có đăng ký kinh doanh khi giao dịch không làm loại trừ trách nhiệm phát sinh từ giao dịch. - Các bên trong tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận. Ý chí của các bên khi tham gia giao dịch đều nhằm mục tiêu lợi nhuận nên dù không có đăng ký kinh doanh, họ đều hiểu và chấp nhận những quy tắc của giao dịch thương mại.
- Việc xác định loại tranh chấp này là tranh chấp kinh doanh thương mại phù hợp với hướng dẫn tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 03/2012/NQ- HĐTP của Hội đồng thẩm phán: “Toà kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 và Điều 30 của BLTTDS; các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận”. (ii) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các bên đều có mục đích lợi nhuận mà chỉ một bên có đăng ký kinh doanh, bên còn lại có các loại giấy tờ pháp lý khác không phải là đăng ký kinh doanh như: Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, Giấy phép thành lập và hoạt động. Đây là trường hợp mà bên không có đăng ký kinh doanh được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Trong các trường hợp này, việc xác định loại tranh chấp cần căn cứ vào quy định tương ứng tại các văn bản pháp luật khác.
Ví dụ 1: tranh chấp phát sinh giữa Tổ chức hành nghề luật sư (có Giấy đăng ký hoạt động) với khách hàng là Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp (có đăng ký kinh doanh) trong việc cung ứng dịch vụ thì đây xác định là tranh chấp dân sự theo Khoản 1 Điều 59 Luật Luật sư.