CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VÀ TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ 1. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo Với việc ra đời Công ước luật biển năm 1982, các quy định về quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, phạm vi không gian địa lý của các quốc gia ven biển được mở rộng đáng kể. Theo tính toán, khoảng 36% diện tích biển và đại dương vốn trước đây được coi là Biển cả nay đã được đặt dưới chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển. Hệ quả của việc này làm tăng các vùng biển chồng lấn giữa các quốc gia đối diện hoặc tiếp liền đòi hỏi các quốc gia liên quan phải tìm biện pháp giải quyết.
Theo ước tính, trên thế giới có khoảng trên 400 khu vực biển chồng lấn mà các quốc gia hữu quan cần phân định. z Vào năm 1996 chỉ có khoảng 136 đường ranh giới đã được thỏa thuận trên tổng số 379 vụ phân định đường biên giới trên thế giới và vẫn còn 247 các đường ranh giới còn chưa được được phân định, chiếm 64,1%. Chưa kể tới các tranh chấp nhỏ lẻ mang tính song phương giữa các quốc gia thì các tranh chấp nhiều bên thường tập trung ở các khu vực sau: Ấn Độ Dương, Nam Thái Bình Dương, biển Nam Trung Hoa, Bắc Thái Bình Dương, biển Bắc Cực, Đại Tây Dương, biển Địa Trung Hải và Biển Đen, biển Ca-ri-bê và Vinh Mê-xi-co[2]. Khái niệm tranh chấp chủ quyền biển đảo Trước khi tìm hiểu về tranh chấp chủ quyền biển đảo thì phải hiểu thế nào là tranh chấp quốc tế, theo đó tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong đó, các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn nhau và có những yêu cầu, hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau.[3] Căn cứ vào thực tiễn quốc tế, có thể hiểu một cách chung nhất, tranh chấp chủ quyền biển, đảo là một hình thức của tranh chấp quốc tế xảy ra giữa các chủ thể của Luật quốc tế, theo đó các bên tranh chấp đưa ra các yêu cầu trái ngược nhau và các căn cứ để chứng minh cho chủ quyền và quyền chủ quyền của mình đối với các vùng biển, thềm lục địa, các đảo trong khu vực đang xảy ra tranh chấp.
Tranh chấp chủ quyền biển, đảo có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, là một hình thức tranh chấp quốc tế, có nghĩa là tranh chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế gồm Quốc gia; Tổ chức quốc tế; Các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết có quyền tự trị hoàn toàn về nội trị đươc Liên hợp quốc thừa nhận phù hợp với Nghị quyết 1514 của Đại hội đồng; Các chủ thể đặc biệt khác của luật quốc tế (như Nammibia, Tòa thánh Vaticang, công quốc Liechtenstein …); Thứ hai, đối tượng của tranh chấp là chủ quyền và quyền chủ quyền đối với các vùng biển, đảo xảy ra giữa các quốc gia có vùng biển, thềm lục địa tiếp liền, đối diện nhau, vùng nước sử dụng có tính chất lịch sử, các đảo và quần đảo mà tại đó z các quốc gia hữu quan chưa có một sự phân định đường biên giới hay ranh giới rõ ràng. Các dạng tranh chấp chủ quyền biển đảo Hiện nay, các quốc gia thường gặp các dạng tranh chấp liên quan đến chủ quyền biển, đảo diễn ra chủ yếu dưới các dạng như sau: a. Tranh chấp vùng biển tiếp liền, đối diện nhau Đây là dạng tranh chấp phổ biến hiện nay, đặc điểm của tranh chấp này là các quốc gia nằm cạnh nhau hoặc gần nhau dẫn đến có bờ biển tiếp liền nhau hoặc đối diện nhau ở khoảng cách gần nên khu vực biển chồng lấn nhau. Tại những khu vực tiếp liền, chồng lấn này các quốc gia hữu quan đưa ra những yêu cầu về chủ quyền, quyền chủ quyền mâu thuẫn với nhau, nên đã dẫn đến tranh chấp quốc tế, như vào năm 2008 chính phủ Peru đệ đơn lên ICJ đòi có quyền sở hữu đối với 35.000 km2 lãnh hải hiện thuộc quyền sở hữu của quốc gia láng giềng Chile [4].
Hình minh họa Quốc gia A Đườn Đường bờ Quốc gia A Quốc gia B Đường biên g bờ biển giới biển Quốc gia B Hình 1: Đường bờ biển tiếp liền Hình 2: Đường bờ biển đối diện b. Tranh chấp thềm lục địa tiếp liền, đối diện nhau z Thềm lục địa trong địa chất học, địa lý là phần lục địa bị ngập dưới đáy biển, tiếp liền với bờ biển, có độ dốc rất thoải, độ sâu vài chục mét tới 350 m, trung bình là 200 m. Bề rộng của thềm lục địa có thể từ 0 m đến 1. Tổng diện tích của thềm lục địa trên thế giới ước tính khoảng 32 triệu km2, chiếm 9% bề mặt đại dương.
Phần lớn thềm lục địa đều có trầm tích trẻ phủ lên trên, có thể chứa sa khoáng. Phía ngoài thềm lục địa, phần dìa thềm lục địa có độ dóc lớn hơn gọi là dóc hoặc sườn lục địa, tận cùng ở bờ hay chân lục địa là nơi chuyển sang đáy đại dương[5]. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 76 của UNCLOS 1982 về thềm lục đại: “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ờ khoảng cách gần hơn.” Các dạng tranh chấp ở thềm lục địa thường gặp như sau: - Tranh chấp thềm lục địa tiếp liền, đối diện nhau: đặc điểm của tranh chấp này là các quốc gia nằm cạnh nhau hoặc gần nhau dẫn đến thềm lục địa tiếp liền nhau hoặc đối diện nhau ở khoảng cách gần nên có hiện tượng thềm lục địa chồng lấn nhau. Tại những khu vực tiếp liền, chồng lấn này các quốc gia hữu quan đưa ra những yêu cầu về chủ quyền mâu thuẫn với nhau nên đã dẫn đến tranh chấp.
Đây là hình thức tranh chấp diễn ra phổ biến trên thế giới hiện này, một số vụ việc ICJ đã phân xử như vụ Tranh chấp Thềm lục địa biển Bắc ( Cộng hòa liên bang Đức và Đan Mạch; Cộng hòa liên bang Đức và Hà Lan) (1967-1969), Thềm lục địa biển Êgiê ( Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ 1976-1978), Thềm lục địa ( Tuynidi và Giamahirya Arập Libi 1978- 1982), Thềm lục địa ( Giamahirya Arập Libi và Manta 1982-1985). - Tranh chấp giữa các quốc gia về tài nguyên phi sinh vật trong lòng thềm lục địa. Tài nguyên dạng này bao gồm dầu mỏ, khí đốt, Hydrat Gas, than, mangan, phophat và nhiều loại khoáng sản quý khác [6]. Đây được xem là dạng tranh chấp do hệ quả của việc chưa phân định ranh giới thềm lục địa tại các quốc gia có thềm z lục địa tiếp liền, chồng lấn.
Cũng có thể tranh chấp ở các quốc gia đã có sự phân định ranh giới thềm lục địa nhưng tại các ranh giới này có các mỏ khoáng sản nằm vắt qua gây bất đồng trong quá trình khai thác và phân chia lợi ích. Để giải quyết tạm thời tình trạng này, các quốc gia thường ký kết với nhau các thỏa thuận quốc tế về hợp tác khai thác chung. Trong điều kiện tồn tại sự chồng lấn về yêu sách chủ quyền hoặc quyền chủ quyền trên biển giữa các quốc gia vốn là vấn đề không dễ dàng giải quyết thì tìm đến một giải pháp tình thế - Khai thác chung - được các quốc gia tính đến. Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu bức thiết về nguồn tài nguyên phục vụ cho sự phát triển đất nước mà thông qua tiếp xúc, cùng khai thác, cùng hưởng lợi mà các bên từng bước thu hẹp những khác biệt trong nhận thức, thêm hiểu biết lẫn nhau, giữa các môi trường hòa bình, ổn định cùng phát triển [7].
Tranh chấp vùng nước lịch sử Vùng nước lịnh sử là một khái niệm chính trị- pháp lý đặc biệt tồn tại song song với lịch sử phát triển của Luật Quốc Tế. Điểm đặc biệt của vùng nước lịch sử thể hiện, hiện này chưa có văn bản quy phạm luật quốc tế nào ghi nhận hay đưa ra khái niệm cụ thể về vùng nước lịch sử, tuy nhiên khái niệm này lại được sử dụng khá rộng rải trong thực tiễn quốc tế, như tại các Hiệp định phân định các vùng nước, các vịnh giữa các quốc gia (như Hiệp định về Vùng nước lịch sử của nước ta và Campuchia ký với nhau ngày 07/07/1982 ở vùng nước trong Vịnh Thái Lan) và trong các phán quyết của các thiết chế tài phán quốc tế (như ICJ liên quan đến phân định Tranh chấp biên giới đất liền, đảo và biển giữa En Sanvado và Hudurat; Nicaragoa xin can dự 1986-1992). Vùng nước lịch sử được hiểu là một vùng nước được các quốc gia hữu quan sử dụng lâu dài, ổn định, có mối quan hệ gắn bó “máu thịt” với người dân bản địa qua nhiều thời kỳ, được các quốc gia hữu quan thực hiện các hành vi mang tính quyền lực nhà nước về quản lý, sử dụng, bảo vệ trong một thời gian dài và không có tranh chấp với quốc gia khác nằm bên ngoài vùng nước này. Tranh chấp đảo và quần đảo z Đây là hình thức tranh chấp diễn ra khá phổ biến hiện này, các bên tranh chấp đưa ra những yêu cầu của mình nhằm xác lập chủ quyền trên các đảo, quần đảo mà tại đó chưa có sự phân định rõ ràng về chủ quyền hoặc do các yếu tố lịch sử để lại.
Một số tranh chấp hiện này đang diễn ra như tranh chấp Quần đảo Kuril giữa Nhật Bản và Nga, tranh chấp trên đảo Senkaku/Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản, hay Việt Nam chúng ta với hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh đó, đã có một số tranh chấp được các bên đưa ra các thiết chế tài phán quốc tế để phân xử như Chủ quyền trên các đảo Pulau Ligita/Pulau Sipadan giữa Inđônêxia kiện Malaysia 1998- 2002, Chủ quyền trên Pedra Branca/Pulan Bata Puteh, Mid Rock và South Ledge giữa Malaysia và Singapore 2003 … hay các bên phân định chủ quyền trên các đảo bằng thương lượng ký kết hiệp định, như tại Điều 3 của Hiệp định về Vùng nước lịch sử giữa nước ta và Campuchia quy định “Hai bên vẫn lấy đường gọi là đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia đảo trong khu vực này”.