Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" được thực hiện bởi tác giả Hoàng Hải Yến (MSSV: 452505), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thị Lan tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024), thuộc chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình.

Trong quan hệ hôn nhân, khi mâu thuẫn gia đình phát sinh đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn trở thành giải pháp chấm dứt quan hệ vợ chồng. Đi kèm với việc chấm dứt quan hệ nhân thân là các tranh chấp phức tạp về nuôi dưỡng, cấp dưỡng con chung và phân chia tài sản. Thực tiễn xét xử tại Tòa án cho thấy quá trình giải quyết tài sản gặp nhiều khó khăn trong khâu thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ, lấy lời khai của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để bảo đảm đánh giá chính xác công sức đóng góp cũng như bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con chưa thành niên. Sau 9 năm thực thi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc nghiên cứu các quy định và thực tiễn áp dụng nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn là đòi hỏi cấp thiết nhằm chỉ ra các vướng mắc, bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Tác giả đã điểm qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài:

  • Luận án của Nguyễn Văn Cừ (2005), "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam", Trường Đại học Luật Hà Nội, nghiên cứu chế độ tài sản và căn cứ xác lập tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
  • Luận văn thạc sĩ của Lê Vân Anh (2019), "Áp dụng nguyên tắc pháp luật hôn nhân và gia đình về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án", Trường Đại học Luật Hà Nội, tập trung vào nội dung và hiệu quả áp dụng các nguyên tắc tại Tòa án.
  • Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hoàng Thái (2018), "Giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn", Trường Đại học Luật Hà Nội, nghiên cứu quy định hiện hành gắn với thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn.
  • Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thu Thủy (2021), "Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014", Trường Đại học Luật Hà Nội, làm rõ lý luận và thực tiễn phân chia khối tài sản chung.

Về mục đích, khóa luận phân tích các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn áp dụng, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, từ đó kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
  2. Phân tích các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện hành.
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn và rút ra các hạn chế, vướng mắc.
  4. Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tài sản khi ly hôn.

Đối tượng nghiên cứu là các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào quy định pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đối với việc chia tài sản theo thỏa thuận và chia tài sản khi có tranh chấp (theo luật định). Đề tài giới hạn không nghiên cứu các vụ việc chia tài sản có yếu tố nước ngoài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và khái niệm chuyên ngành làm cơ sở lý thuyết, bao gồm:

  • Các văn bản pháp luật hiện hành: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, Nghị định số 01/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.
  • Các văn bản pháp luật lịch sử: Quốc triều hình luật (thời Lê), Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn), Dân luật Bắc kỳ (1931), Dân luật Trung kỳ (1936), Dân luật giản yếu Nam kỳ; Luật Gia đình năm 1959, Sắc luật số 15/64, Bộ luật Dân sự năm 1972 ở miền Nam trước năm 1975; Sắc lệnh số 97/SL và 159/SL năm 1950, Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000.
  • Khung khái niệm: Khái niệm tài sản (Điều 105 BLDS 2015), tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai (Điều 108 BLDS 2015), quyền sở hữu (Điều 158 BLDS 2015), tài sản chung (Điều 33 Luật HN&GĐ 2014), tài sản riêng (Điều 43 Luật HN&GĐ 2014), ly hôn (khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014), nguyên tắc pháp luật theo Từ điển Luật học và Từ điển Tiếng Việt.

Khóa luận được triển khai dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa Mác - Lênin. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Khảo cứu sự hình thành và biến đổi của quy định về tài sản vợ chồng qua các giai đoạn lịch sử pháp lý Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ từng điều luật, thông tư hướng dẫn và tổng hợp thành các nguyên tắc pháp lý có hệ thống.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định giữa các thời kỳ lập pháp (Luật năm 1959, 1986, 2000, 2014) và giữa các nguồn luật vùng miền trong lịch sử.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý dữ liệu thực tế từ Báo cáo tổng kết công tác giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình các năm 2021, 2022, 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa nền tảng và tiến trình lịch sử lập pháp về giải quyết tài sản của vợ chồng:

  • Làm rõ hệ thống khái niệm: Tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (bất động sản và động sản; hiện có hoặc hình thành trong tương lai). Tài sản chung là tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản riêng gồm tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế/tặng cho riêng, tài sản chia riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu. Ly hôn được định nghĩa là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án.
  • Ý nghĩa của nguyên tắc giải quyết tài sản: Đáp ứng nhu cầu tất yếu khi quan hệ hôn nhân chấm dứt; bảo đảm quyền tài sản của cá nhân; bảo đảm an ninh trật tự xã hội; bảo vệ đạo đức truyền thống; nâng cao chất lượng xét xử và tính chính xác của cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Lịch sử pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ:
Giai đoạn lịch sử Văn bản / Nguồn luật Đặc điểm chế độ tài sản và nguyên tắc giải quyết khi ly hôn
Cổ luật phong kiến Quốc triều hình luật (thời Lê), Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn) Áp dụng chế độ cộng đồng toàn sản gồm 3 loại điền sản: phụ tông điền sản, thê điền sản, tân tảo điền sản. Đặt dưới quyền quản lý của người chồng; luật chỉ dự liệu chia tài sản khi một bên chết trước không có con (Điều 374, 375, 376 Quốc triều hình luật), không có quy định rõ ràng về nguyên tắc khi ly hôn.
Thời kỳ Pháp thuộc Dân luật Bắc kỳ (1931), Dân luật Trung kỳ (1936), Dân luật giản yếu Nam kỳ Thừa nhận chế độ tài sản ước định (hôn ước) và luật định (cộng đồng toàn sản). Áp dụng thuyết "Cộng đồng tiếp tục". Ly hôn không có con: vợ lấy lại kỷ phần hiện vật hiện còn, phần tài sản chung chia đôi. Ly hôn có con: không thanh toán khối tài sản chung (để dành cho con); Dân luật Bắc kỳ chia cho vợ một phần theo công sức; Dân luật Trung kỳ ấn định kỷ phần của vợ là 1/3 (1/3 của chồng, 1/3 của con). Nếu vợ có lỗi ngoại tình (phạm gian) thì phần nhận bị giảm 1/2 (Bắc kỳ) hoặc 1/4 (Trung kỳ).
Miền Nam (1954 - 1975) Luật Gia đình 1959, Sắc luật số 15/64, BLDS 1972 Luật Gia đình 1959 cấm ly hôn (Điều 55, trừ trường hợp Tổng thống cho phép) nên không dự liệu chia tài sản khi ly hôn; Sắc luật 15/64 và BLDS 1972 quy định chia theo hôn ước hoặc chia đôi tài sản chung (Điều 94 Sắc luật 15/64, Điều 201 BLDS 1972); bên có lỗi bị mất các quyền lợi được dành cho từ hôn ước (Điều 92 Sắc luật 15/64, Điều 200 BLDS 1972).
Giai đoạn 1945 - 1975 Sắc lệnh 97/SL, 159/SL (1950); Luật HN&GĐ 1959 Sắc lệnh 1950 quy định chia đôi tài sản chung. Luật HN&GĐ 1959 áp dụng chế độ cộng đồng toàn sản (Điều 15), không công nhận tài sản riêng; khi ly hôn chia theo công sức đóng góp, lao động gia đình coi như lao động sản xuất, cấm đòi trả của (Điều 28).
Giai đoạn 1975 - 2000 Luật HN&GĐ 1986, Luật HN&GĐ 2000 Luật 1986 chuyển sang chế độ cộng đồng tạo sản (Điều 14), thừa nhận tài sản riêng (Điều 16, 42), bổ sung chia tài sản khi sống chung với gia đình. Luật 2000 bổ sung nguyên tắc chia đôi có tính đến hoàn cảnh, công sức, bảo vệ sản xuất kinh doanh, chia bằng hiện vật hoặc thanh toán giá trị chênh lệch.

Chương 2: Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Pháp luật Việt Nam hiện hành

Chương 2 phân tích chi tiết quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP:

  • Giải quyết theo chế độ tài sản thỏa thuận (khoản 1 Điều 59): Thỏa thuận phải lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực trước khi kết hôn (Điều 47), có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn và tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 117 BLDS 2015). Thỏa thuận bị vô hiệu nếu vi phạm điều cấm, trái đạo đức, vi phạm quyền bình đẳng hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, thừa kế (Điều 50). Khi thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng hoặc vô hiệu thì áp dụng quy định theo luật định. Luật 2014 đề cao quyền tự định đoạt, không bắt buộc việc thỏa thuận phải được Tòa án công nhận như Luật 1986.
  • Giải quyết theo chế độ tài sản luật định (khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59):
    • Nguyên tắc bảo đảm bình đẳng và chia đôi có tính đến 4 yếu tố:
      1. Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng (tình trạng sức khỏe, khả năng lao động, tài sản sau ly hôn; bên khó khăn hơn được ưu tiên chia phần nhiều hơn hoặc nhận loại tài sản phù hợp để ổn định cuộc sống).
      2. Công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung (lao động nội trợ, chăm sóc con cái trong gia đình được coi như lao động có thu nhập ngang với người đi làm bên ngoài; bên đóng góp nhiều hơn có thể được chia theo tỷ lệ 60:40 hoặc 70:30).
      3. Bảo vệ lợi ích chính đáng trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp (giao công cụ, tư liệu sản xuất cho bên đang hoạt động để tiếp tục tạo thu nhập và thanh toán phần chênh lệch giá trị cho bên kia; ví dụ giao xe taxi 400 triệu cho chồng, giao cửa hàng 200 triệu cho vợ thì chồng bù 100 triệu).
      4. Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng (vi phạm nghĩa vụ nhân thân, tài sản dẫn đến ly hôn như bạo lực gia đình, ngoại tình, phá tán tài sản, cờ bạc).
    • Phương thức phân chia và xác định giá trị: Tài sản chung chia bằng hiện vật; nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị, bên nhận hiện vật có giá trị lớn hơn phải thanh toán phần chênh lệch (khoản 3 Điều 59). Giá trị tài sản chung và riêng được định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm (khoản 5 Điều 7 TTLT 01/2016).
    • Bảo đảm quyền sở hữu tài sản riêng: Tài sản riêng của bên nào thuộc sở hữu bên đó (Điều 43, khoản 4 Điều 59). Bên có tranh chấp phải tự chứng minh quyền sở hữu riêng; nếu không chứng minh được thì coi là tài sản chung (khoản 3 Điều 33). Trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn, chi dùng hết hoặc dùng tài sản chung sửa chữa làm tăng giá trị tài sản riêng thì phải thanh toán phần giá trị đóng góp tương ứng. Nghĩa vụ nợ riêng thanh toán bằng tài sản riêng (khoản 3 Điều 44); nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung (khoản 3 Điều 46).
    • Bảo vệ quyền lợi của vợ, con chưa thành niên, con mất NLHVDS hoặc không có khả năng lao động: Căn cứ khoản 4 Điều 2, khoản 5 Điều 59, Điều 81 và Điều 110 Luật HN&GĐ 2014. Khi chia nhà ở là chỗ ở duy nhất không thể chia hiện vật, Tòa án xem xét giao cho bên trực tiếp nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán chênh lệch (khoản 6 Điều 7 TTLT 01/2016).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn và một số kiến nghị

Chương 3 phản ánh thực tiễn xét xử và các bất cập phát sinh:

  • Dữ liệu thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai:
Năm thống kê Số vụ, việc HNGĐ đã giải quyết Số vụ việc thuận tình ly hôn (TTL) Ghi chú thực tiễn xét xử
2021 125 38 Chú trọng công tác hòa giải để đương sự tự thỏa thuận
2022 126 37 Áp dụng nguyên tắc hiện hành giải quyết dứt điểm tài sản
2023 45 23 Số liệu tổng kết công tác giải quyết vụ việc HNGĐ

(Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm 2021, 2022, 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên)

  • Khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng:
    1. Giá trị pháp lý của yêu cầu tuyên bố thỏa thuận tài sản vô hiệu: Khoản 2 Điều 7 TTLT 01/2016 quy định Tòa án chỉ xem xét tuyên bố thỏa thuận vô hiệu khi có yêu cầu. Nếu văn bản thỏa thuận thuộc trường hợp vô hiệu theo Điều 50 Luật HN&GĐ 2014 nhưng các bên không yêu cầu tuyên bố vô hiệu thì Tòa án lúng túng trong việc xác định hiệu lực áp dụng, vì nếu bản án không tuyên vô hiệu thì thỏa thuận đương nhiên được coi là có hiệu lực.
    2. Xác định và đánh giá yếu tố lỗi: Điểm đ khoản 4 Điều 7 TTLT 01/2016 diễn giải lỗi là vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về tiêu chí và chứng cứ định lượng. Đương sự thường khai báo không trung thực; Thẩm phán gặp khó khăn trong thu thập chứng cứ và không có căn cứ rõ ràng để quy đổi mức độ lỗi ra tỷ lệ phần trăm phân chia tài sản cụ thể.
    3. Định lượng công sức đóng góp của vợ chồng: Quy định lao động gia đình tương đương lao động có thu nhập (điểm b khoản 2 Điều 59) mang tính định tính, thiếu khung định lượng. Thực tế lấy lời khai về công sức nội trợ, chăm sóc gia đình, chăn nuôi gia súc, trồng rừng... thường gặp sự chống đối, phủ nhận từ gia đình bên kia (bố mẹ chồng/vợ), gây khó khăn cho việc phân định tỷ lệ tài sản hưởng thực tế.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính: Khóa luận đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và toàn bộ khung nguyên tắc phân chia tài sản theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; tổng hợp lịch sử lập pháp từ thế kỷ XV đến nay; đồng thời phân tích số liệu giải quyết án hôn nhân và gia đình thực tế tại TAND huyện Bảo Yên giai đoạn 2021 - 2023 (với 125 vụ năm 2021, 126 vụ năm 2022 và 45 vụ năm 2023).
  • Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện:
    • Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể cơ chế xử lý của Tòa án khi phát hiện thỏa thuận tài sản có dấu hiệu vô hiệu theo Điều 50 nhưng đương sự không có yêu cầu tuyên bố vô hiệu độc lập.
    • Ban hành tiêu chí cụ thể để nhận diện, thu thập chứng cứ và lượng hóa mức độ lỗi của đương sự trong việc quy đổi tỷ lệ phần trăm tài sản khi phân chia.
    • Xây dựng hướng dẫn chi tiết và tiêu chí định lượng hóa công sức đóng góp đối với lao động gia đình (nội trợ, sản xuất nông - lâm nghiệp tại địa phương) nhằm tránh tùy nghi khi áp dụng tỷ lệ phân chia.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Kế thừa các công trình lý luận trước đây nhưng đi sâu làm rõ những khoảng trống mang tính định tính trong các văn bản hướng dẫn hiện hành (đặc biệt là Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP), đối chiếu trực tiếp giữa quy định lý thuyết với vướng mắc thu thập chứng cứ thực tiễn tại Tòa án địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận tập trung vào quan hệ tài sản nội địa theo luật định và thỏa thuận thông thường, không đi sâu vào giải quyết tài sản của vợ chồng có yếu tố nước ngoài. Số liệu thực tiễn và khảo sát tình hình xét xử giới hạn trong phạm vi Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tranh chấp tài sản hôn nhân có yếu tố nước ngoài; phân tích cơ chế giải quyết đối với các dạng tài sản mới phát sinh (tài sản kỹ thuật số, cổ phần doanh nghiệp phức tạp); khảo sát thực tiễn áp dụng nguyên tắc tại các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và các đô thị lớn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Hôn nhân và gia đình tham khảo khung lý luận, lịch sử lập pháp và phương pháp phân tích điều luật.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư tham khảo phần phân tích 4 căn cứ chia tài sản chung tại Chương 2, cùng các vướng mắc thực tiễn về chứng minh lỗi và công sức đóng góp tại Chương 3 để phục vụ nghiên cứu hồ sơ và giải quyết án thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định điều kiện có hiệu lực đối với chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận như thế nào?
Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thỏa thuận phải được xác lập trước khi kết hôn, lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực, và có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn. Thỏa thuận phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 BLDS 2015 và không thuộc các trường hợp bị tuyên bố vô hiệu tại Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

2. Lao động của người vợ hoặc chồng làm nội trợ trong gia đình được pháp luật hiện hành tính như thế nào khi phân chia tài sản chung?
Theo điểm b khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm b khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, lao động của vợ, chồng trong gia đình (chăm sóc con cái, làm công việc nội trợ mà không đi làm bên ngoài) được coi như lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của bên đi làm.

3. Khi chia tài sản bằng giá trị, thời điểm nào được dùng để xác định giá trị tài sản chung và tài sản riêng?
Theo khoản 5 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, giá trị tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của mỗi bên được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

4. Dưới thời kỳ Pháp thuộc, Dân luật Trung kỳ năm 1936 quy định kỷ phần phân chia tài sản của người vợ khi ly hôn có con chung ra sao?
Theo Điều 110 Dân luật Trung kỳ năm 1936, khi vợ chồng ly hôn mà có con chung thì khối tài sản chung không thanh toán mà dành cho con, trong đó kỷ phần của người vợ được hưởng là 1/3 khối của chung (1/3 chia cho chồng và 1/3 chia cho con). Nếu vợ có lỗi ngoại tình (phạm gian), phần trả cho người vợ bị giảm 1/4.

5. Điểm bất cập chính trong việc áp dụng quy định về tuyên bố văn bản thỏa thuận tài sản vô hiệu tại Tòa án là gì?
Khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP chỉ cho phép Tòa án xem xét khi có yêu cầu tuyên bố vô hiệu. Khi văn bản vi phạm Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng không có đương sự nào yêu cầu, Tòa án gặp vướng mắc vì nếu không tuyên vô hiệu thì thỏa thuận mặc nhiên có giá trị áp dụng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Hải Yến đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và thực trạng các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Công trình làm rõ 4 căn cứ định tính khi chia đôi khối tài sản chung luật định, nguyên tắc bảo vệ tài sản riêng và cơ chế ưu tiên cho phụ nữ, con chưa thành niên. Đồng thời, thông qua thực tiễn xét xử tại TAND huyện Bảo Yên (Lào Cai), khóa luận chỉ ra các vướng mắc về chứng minh lỗi, lượng hóa công sức nội trợ và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.