Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai. Chương 2: Thực trạng hoạt động tiếp công dân và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại tỉnh Lào Cai. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động tiếp công dân và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại tỉnh Lào Cai. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1.
Tiếp công dân và giải quyết khiếu nại 1. Tiếp công dân và tiếp công dân trong lĩnh vực đất đai 1. Khái niệm tiếp công dân Ngày nay, khái niệm tiếp công dân đã thƣờng xuyên xuất hiện trong đời sống hàng ngày và trong các văn bản pháp luật. Hoạt động tiếp công dân là một trong những hoạt động thƣờng xuyên của các cơ quan Nhà nƣớc.
Thông qua việc tiếp công dân, Đảng và Nhà nƣớc lắng nghe đƣợc những ý kiến của dân, nhận đƣợc những thông tin kịp thời phản ánh về quá trình thực hiện các chủ trƣơng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc. Trên cơ sở đó Đảng và Nhà nƣớc có thể điều chỉnh sửa đổi, bổ sung kịp thời các chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tế đất nƣớc. Tiếp công dân, trong đó bao gồm việc xử lý thông tin từ đơn thƣ khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nƣớc; là một phƣơng thức tiếp nhận thông tin phản hồi của quản lý, là một nội dung mang tính nghiệp vụ sâu sắc. Xác định vai trò quan trọng của công tác tiếp công dân, ngày 25/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Tiếp công dân, lần đầu tiên hoạt động tiếp công dân đƣợc quy định bằng một văn bản luật riêng biệt, theo đó hoạt động tiếp công dân đƣợc định nghĩa: Là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật [23].
9 Từ đây, hoạt động tiếp công dân đã đƣợc thể chế hóa, đƣợc điều chỉnh bởi một văn bản luật, có giá trị pháp lý cao; các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải có trách nhiệm đón tiếp công dân, lắng nghe tiếp nhận những thông tin, ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để giải quyết hoặc kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết thấu tình, đạt lý; đồng thời hƣớng dẫn, vận động, tuyên truyền, thuyết phục ngƣời dân thực hiện đúng chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nƣớc. Tuỳ theo tính chất, nội dung vụ việc mà phân ra các hình thức tiếp công dân sau: - Tiếp công dân đến khiếu nại; - Tiếp công dân đến tố cáo; - Tiếp công dân đến kiến nghị, phản ánh. Trong phạm vi của Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động tiếp công dân đến khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai.Một số văn bản pháp luật về tiếp công dân - Hiến pháp năm 2013 Hiến pháp 2013 ghi nhận quyền của nhân dân (Điều 2), quyền tham gia quản lý nhà nƣớc và xã hội của công dân (Điều 28), quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; nghĩa vụ của cán bộ, công chức nhà nƣớc phải tôn trọng nhân dân, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân (Điều 30). Bên cạnh đó, Hiến pháp còn bảo vệ các quyền nêu trên của công dân thông qua các cơ chế bảo đảm thực hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội [20].
- Luật Tiếp công dân 2013: Luật này quy định về trách nhiệm tiếp công dân; quyền và nghĩa vụ của ngƣời đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; việc tổ chức hoạt động tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị và điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân. 10 - Trên cơ sở quy định Hiến pháp và các luật về tiếp dân, khiếu nại, tố cáo, các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản hƣớng dẫn thi hành để thực hiện pháp luật: Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân; Thông tƣ số 06/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình tiếp công dân. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại 1. Khái niệm khiếu nại Theo quy định tại Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011: Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình [21].
Nhƣ vậy, khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc đề nghị của cán bộ công chức chịu sự tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc ngƣời có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Đề nghị này xuất phát từ nhận thức chủ quan của ngƣời khiếu nại cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm. Cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể kết luận có vi phạm hay không sau khi đã xem xét một cách khách quan và thận trọng nội dung vụ việc với điều kiện đƣợc cung cấp đầy đủ tài liệu có liên quan. Nhƣ vậy, một mặt khiếu nại là hình thức phản ứng tích cực của công dân, cơ quan, tổ chức với nhũng hiện tƣợng vi phạm các quyền và lợi ích đƣợc pháp luật bảo vệ; mặt khác, khiếu nại là biện pháp ngăn chặn và loại từ vi phạm.
11 Chủ thể của quyền khiếu nại là mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo… có thế là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời không có quốc tịch sinh sống, lao động, học tập, công tác trên lãnh thổ Việt Nam hoặc mọi cơ quan, tổ chức. Đối tƣợng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. Theo quy định tại Khoản 8, Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 thì: Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể [21]. Theo quy định khoản 9, Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 thì: Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nƣớc, của ngƣời có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nƣớc thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật [21].
Giải quyết khiếu nại Tại Khoản 11, Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định “Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại”[21]. Ngƣời giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đƣợc Luật Khiếu nại năm 2011 tại mục 1 chƣơng III giải quyết khiếu nại và điều 51 tại Luật này quy định rất cụ thể đối với cán bộ, công chức giữ cƣơng vị khác nhau ở các cấp khác nhau [21]. Nhƣ vậy, giải quyết khiếu nại hành chính đƣợc hiểu là quá trình cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xem xét, đánh giá đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật về tính hợp pháp và tính hợp lý, từ đó đƣa ra các giải pháp xử lý.
12 Với cách hiểu trên, có thể hiểu giải quyết khiếu nại hành chính ở những đặc điểm nhƣ sau: Thứ nhất, cơ sở của giải quyết khiếu nại là khiếu nại hành chính theo quy định của pháp luật. Thứ hai, đối tƣợng xem xét khi giải quyết khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại. Thứ ba, giải quyết khiếu nại đƣợc thực hiện theo thủ tục hành chính – thủ tục giải quyết khiếu nại. Giải quyết khiếu nại là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết về tính hợp pháp hay không hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính do cơ quan nhà nƣớc ban hành khi thực hiện hoạt động quản lý nhà nƣớc.
Đây là một quá trình phức tạp và đòi hỏi khách quan trong quá trình giải quyết, vì vậy, cần phải đƣợc tiến hành theo thủ tục pháp luật quy định – thủ tục giải quyết khiếu nại. Thứ tư, kết quả giải quyết khiếu nại là một quyết định hành chính của chủ thể giải quyết khiếu nại về việc xem xét lại tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. Một số văn bản pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại. - Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”[20].
- Luật Khiếu nại 2011 Luật Khiếu nại tiếp tục quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nƣớc, của ngƣời có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nƣớc; khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; tiếp công dân; quản lý và giám sát công tác giải quyết khiếu nại [21]. 13 Ngoài ra, để tạo cơ sở hƣớng dẫn về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong các cơ quan, tổ chức; khiếu nại của tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài, khiếu nại trong các đơn vị sự nghiệp công lập, trong doanh nghiệp nhà nƣớc. Luật quy định các cơ quan, tổ chức nói trên đƣợc hƣớng dẫn và áp dụng các quy định của Luật Khiếu nại trong quá trình giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền (21). - Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 3/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại; - Thông tƣ số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Tổng Thanh tra Chính phủ về Quy trình giải quyết khiếu nại.