Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thúy Hằng đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh các quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam đang có những biến chuyển sâu sắc trước tác động của hội nhập và mở cửa kinh tế. Số liệu thống kê được tác giả trích dẫn cho thấy số vụ ly hôn ở Việt Nam duy trì ở mức khoảng 60.000 vụ/năm, tương đương 0,75 vụ/1.000 dân; tỷ lệ ly hôn so với kết hôn chạm ngưỡng 25% (trung bình cứ 4 cặp đôi đi đăng ký kết hôn thì có 1 cặp đôi đưa nhau ra tòa ly hôn). Trước thực trạng đổ vỡ hôn nhân gia tăng nhanh chóng, xu hướng nam, nữ lựa chọn chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống xã hội.

Thực tiễn này làm nảy sinh 4 nhóm vấn đề cơ bản:

  1. Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có hiệu lực thi hành gần 10 năm, nhiều quy định áp dụng giải quyết hậu quả pháp lý đối với hiện tượng sống chung không kết hôn còn mang tính chung chung, bộc lộ sự bất cập trước các biến động xã hội mới.
  2. Xu hướng gia tăng việc chung sống chịu tác động từ các yếu tố kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán, đồng thời có thể phát sinh các yếu tố nước ngoài xen kẽ, đòi hỏi việc áp dụng điều ước quốc tế bên cạnh luật quốc gia.
  3. Tác động tiêu cực đến quy mô đăng ký kết hôn hợp pháp trên phạm vi cả nước.
  4. Yêu cầu cấp thiết đối với công tác xây dựng pháp luật nhằm ban hành các quy phạm chi tiết hơn, bảo đảm khung pháp lý bao quát cả các mối quan hệ sống chung của người đồng giới và người chuyển giới.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm 3 nội dung chính:

  • Nghiên cứu tầm quan trọng của việc kết hôn trong đời sống xã hội thông qua việc phân tích khái niệm kết hôn, đăng ký kết hôn và ý nghĩa pháp lý - xã hội của thủ tục đăng ký kết hôn.
  • Nghiên cứu sự thay đổi của quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử đối với hiện tượng nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, trọng tâm là các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trong việc giải quyết hậu quả pháp lý.
  • Nghiên cứu thực trạng nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn tại Việt Nam, làm rõ các nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật phù hợp.

Khóa luận xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về việc giải quyết hậu quả pháp lý của hiện tượng nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn; hệ thống quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (đặc biệt là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); thực tiễn thi hành pháp luật và các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật liên quan.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Lãnh thổ Việt Nam.
    • Về thời gian: Nghiên cứu các quy định pháp luật qua từng thời kỳ, bắt đầu từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 cho đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn áp dụng tính đến năm 2024.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống luận điểm dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, gia đình (trích dẫn quan điểm trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức của C. Mác về gia đình như một mối quan hệ song trùng giữa quan hệ tự nhiên và quan hệ xã hội), quan điểm về Nhà nước và pháp luật, cùng các chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hệ thống cơ sở pháp lý trực tiếp được khai thác bao gồm:

  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Khoản 5 Điều 3 về khái niệm kết hôn; Khoản 7 Điều 3 về khái niệm chung sống như vợ chồng; Điều 8 về điều kiện kết hôn; Điều 9 về đăng ký kết hôn; Điều 13 về xử lý đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền; Điều 14, 15, 16 về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn; Điều 51, 53, 55, 56 về quyền yêu cầu và căn cứ ly hôn).
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 22 về người mất năng lực hành vi dân sự; Điều 25 về quyền nhân thân; Điều 39 về quyền kết hôn, ly hôn; Điều 53 về người giám hộ đương nhiên của vợ chồng; Điều 68 về tuyên bố mất tích).
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Khoản 1 Điều 4 về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; Khoản 2 Điều 68 về đương sự trong vụ án dân sự).
  • Luật Hộ tịch năm 2014 (Khoản 1 Điều 17 quy định thẩm quyền đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện).
  • Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (Điều 2 về chức năng, thẩm quyền xét xử vụ việc hôn nhân và gia đình).
  • Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 (Điều 2, Điều 3 về hành vi bạo lực gia đình).
  • Các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật: Thông tư số 112/NCPL ngày 19/8/1972 của Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Công văn số 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999 của TANDTC; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 của Quốc hội; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Chỉ thị số 02/2003/CT-BTP của Bộ Tư pháp; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016.

Tác giả vận dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các khái niệm, đặc điểm pháp lý, phân tích các điều luật và tổng kết đánh giá thực trạng.
  • Phương pháp hệ thống hóa: Phân nhóm các dạng thức sống chung không kết hôn và phân định thẩm quyền, cơ chế xử lý theo trình tự tố tụng.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của các đạo luật hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ lịch sử (1959, 1986, 2000, 2014) và đối chiếu quy định của Việt Nam với một số quốc gia công nhận hoặc cấm hôn nhân đồng giới.
  • Phương pháp lịch sử: Theo dõi diễn biến chính sách lập pháp từ thời phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc đến hiện tại.
  • Phương pháp thống kê và khảo sát xã hội học: Tiến hành khảo sát thực nghiệm bằng biểu mẫu bảng hỏi trực tuyến đối với sinh viên tại một số trường đại học về quan điểm hôn nhân và hiện tượng "sống thử" (cỡ mẫu từ 55 đến 68 phản hồi). Đồng thời kế thừa số liệu khảo sát từ các công trình nghiên cứu của Bùi Thị Mừng (2011), Nông Thị Hồng Yến (2015), Lê Thu Trang (2023), Nguyễn Tiến Giang (2021), Nguyễn Văn Cừ (2022), số liệu từ Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE, 2021) và Khoa Xã hội học Trường Đại học Mở TP.HCM (2010).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận và pháp luật về nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về chế định kết hôn và hiện tượng chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, bao gồm các nội dung trọng tâm:

  1. Cơ sở lý luận về kết hôn và đăng ký kết hôn:
  • Căn cứ quy định tại Khoản 5 Điều 3 và Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tác giả luận giải 4 điều kiện kết hôn: độ tuổi (nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi, dựa trên cơ sở tâm sinh lý và năng lực hành vi dân sự); sự tự nguyện hoàn toàn của hai bên (phù hợp Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015); năng lực hành vi dân sự (không bị mất năng lực hành vi theo Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015); không thuộc các trường hợp cấm kết hôn (tảo hôn, kết hôn giả tạo, lừa dối, cản trở kết hôn, vi phạm chế độ một vợ một chồng, kết hôn cận huyết thống trong phạm vi 3 đời).
  • Về hôn nhân giữa những người cùng giới tính: Khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định "không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính". Tác giả thống kê hiện có khoảng 30 quốc gia trên thế giới công nhận hôn nhân đồng giới (như Hà Lan, Áo, Bỉ, Anh, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Canada, Argentina, Đài Loan, Nam Phi...), trong khi một số nước vẫn xử phạt nặng hoặc áp dụng án tử hình (Mauritania, Somalia, Sudan). Pháp luật Việt Nam tuy không thừa nhận hôn nhân đồng giới nhưng không còn quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính như trước đây.
  • Khái niệm và ý nghĩa của đăng ký kết hôn: Đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền (UBND cấp xã hoặc UBND cấp huyện theo Khoản 1 Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2014) là điều kiện bắt buộc để xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp. Đăng ký kết hôn có ý nghĩa pháp lý nhằm bảo vệ quyền nhân thân, tài sản của vợ chồng, giúp Nhà nước quản lý hộ tịch và xóa bỏ tập tục lạc hậu.
  1. Khái niệm và đặc điểm của hiện tượng nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn:
  • Khái niệm: Căn cứ Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Hành vi này đòi hỏi hai yếu tố cấu thành: "tổ chức cuộc sống chung" (góp sức, ăn chung, ở chung, sinh hoạt chung) và "coi nhau là vợ chồng" (quan hệ tình dục, ra mắt họ hàng, có con chung, gây dựng tài sản chung).
  • 4 đặc điểm pháp lý cơ bản:
    • Chủ thể: Phải là hai cá nhân khác giới tính (nam và nữ) có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Pháp luật hiện hành chưa có quy định giải quyết hệ quả chung sống của các cặp đôi cùng giới tính.
    • Về mặt hình thức: Vi phạm quy định bắt buộc về thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan hộ tịch có thẩm quyền, dẫn đến quan hệ sống chung không được bảo đảm bằng giá trị pháp lý của giấy chứng nhận kết hôn.
    • Về tính chất quan hệ: Hai bên thực sự có tình cảm, chia sẻ vật chất, tinh thần, sinh hoạt tình dục thường xuyên, công khai trước cộng đồng và duy trì cuộc sống chung bền vững, lâu dài chứ không mang tính tạm bợ.
    • Về mục đích và hệ quả ràng buộc: Hai bên hướng tới nhiều mục đích khác nhau (tìm hiểu bạn đời nhằm hạn chế ly hôn, theo đuổi chủ nghĩa tự do cá nhân "Freedom" không muốn ràng buộc pháp lý). Do không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa vợ và chồng.
  1. Khái quát tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam:
Thời kỳ lịch sử Văn bản điều chỉnh tiêu biểu Cơ chế ghi nhận và giải quyết
Phong kiến Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) Đề cao nghi thức tước hôn, giá thú. Không thừa nhận sống chung tự do; hành vi chung sống không giá thú của phụ nữ bị xem là tội "thông gian", có thể bị xử phạt lưu hoặc tử hình.
Pháp thuộc Dân luật Bắc Kỳ, Dân luật Trung Kỳ Bắt buộc kết hôn phải có chứng nhận của nhà chức trách. Ghi nhận khái niệm "con ngoài giá thú" ("con hoang", "con biệt tinh") và cho phép nhận cha, mẹ trừ trường hợp loạn luân hoặc ngoại tình.
1945 - 1954 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (Đạo luật số 13) Điều 11 quy định việc kết hôn phải được Ủy ban hành chính cơ sở công nhận. Mọi hình thức kết hôn khác không có giá trị pháp lý; chưa thừa nhận và chưa giải quyết hậu quả của việc sống chung không đăng ký.
1954 - 1975 Thông tư số 112/NCPL ngày 19/8/1972 của TAND tối cao Văn bản pháp lý đầu tiên công nhận "hôn nhân thực tế" đối với các cặp đôi sống chung không đăng ký nhưng thỏa mãn đủ điều kiện kết hôn, thực sự coi nhau là vợ chồng, gánh vác việc gia đình và được xã hội công nhận; không công nhận đối với trường hợp sống chung tạm bợ.
1975 - 2000 Luật HN&GĐ năm 1986, Nghị quyết 01/NQ-HĐTP (1988), Công văn 16/1999/KHXX của TANDTC Thừa nhận gián tiếp hôn nhân thực tế nếu không vi phạm điều cấm. Công văn 16/1999/KHXX xác định chỉ giải quyết như ly hôn đối với các trường hợp chung sống trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật năm 1986 có hiệu lực). Sau mốc này, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết nuôi con và chia tài sản.
2000 - 2014 Luật HN&GĐ năm 2000, Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10, Nghị định 77/2001/NĐ-CP, TTLT 01/2001/TTLT Khoản 1 Điều 11 chính thức bãi bỏ thuật ngữ "hôn nhân thực tế", quy định nam nữ không đăng ký mà sống chung thì không được công nhận là vợ chồng. Cho phép các cặp chung sống từ 03/01/1987 đến 01/01/2001 được đăng ký trong thời hạn 2 năm (đến 01/01/2003); sau thời hạn này không đăng ký thì dứt khoát không công nhận là vợ chồng.
2014 đến nay Luật HN&GĐ năm 2014, TTLT 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Đưa ra định nghĩa tại Khoản 7 Điều 3; xác lập nguyên tắc không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ vợ chồng (Điều 14). Duy nhất chỉ công nhận quan hệ vợ chồng đối với trường hợp chung sống trước ngày 03/01/1987. Tách bạch việc giải quyết con chung (Điều 15) và tài sản, hợp đồng theo Bộ luật Dân sự (Điều 16).

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết hậu quả pháp lý của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn thông qua việc tổng hợp số liệu khảo sát, phân loại các dạng thức sống chung và phân tích cơ chế giải quyết tại Tòa án:

  1. Thực trạng và các dạng thức tồn tại:
  • Thực trạng qua các giai đoạn quản lý nhà nước: Trước khi Luật năm 2000 có hiệu lực, cả nước có khoảng 1 triệu cặp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Đến ngày 01/01/2003, các cơ quan tư pháp đã tiến hành đăng ký kết hôn cho hơn 600.000 trường hợp, còn khoảng 400.000 trường hợp chưa đăng ký, dẫn đến sự ra đời của Chỉ thị số 02/2003/CT-BTP ngày 14/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp để tiếp tục đôn đốc đăng ký lưu động.
Nguồn số liệu / Nghiên cứu Đối tượng khảo sát Số liệu / Tỷ lệ ghi nhận
Khảo sát của tác giả (2024) Sinh viên đại học chưa từng kết hôn - 39,7% lựa chọn sống chung không kết hôn trong tương lai (N=63).
- 47,6% đồng tình với lối sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn (N=68).
- 45,5% đồng tình với lối sống thử trước hôn nhân (N=55).
TS. Lê Thu Trang (2023) Người dân tại Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM, Đà Nẵng 55,8% người được khảo sát đồng nhất hành vi sống chung không kết hôn với hiện tượng "sống thử".
ĐH Mở TP.HCM (2010) & khảo sát tại Hà Nội Thanh niên và sinh viên - Khoảng 1/3 thanh niên sống thử trước hôn nhân.
- Tỷ lệ sinh viên sống thử tại một trường ĐH ở Hà Nội là 6,5% (trong 691 sinh viên ở trọ/KTX); 47,1% sinh viên sống thử được gia đình đồng ý; 45,1% đã sống thử trên 1 năm.
Thống kê xã hội học Nhóm người chung sống có quan hệ tình dục - 100% có quan hệ tình dục nhưng chỉ 48% sử dụng biện pháp tránh thai (52% không dùng).
- Khi mang thai: 43% chọn phá thai, chỉ 36% tiến tới kết hôn.
Viện iSEE (12/2021) Cộng đồng LGBT tại Việt Nam (mẫu gần 2.500 người) - Người đồng tính, song tính, chuyển giới chiếm 9% - 11% dân số.
- Gần 62% đang trong mối quan hệ gắn kết cùng giới.
- Về tài sản chung: 28,90% cặp đôi sở hữu chung tài sản giá trị (ô tô, sổ tiết kiệm); 18,40% góp vốn đầu tư kinh doanh chung; 7,00% có nhà đất đứng tên cả hai người.
Michael Rosenfeld & Katharina Roesler Nghiên cứu về tỷ lệ ly hôn sau sống thử Sống chung trước hôn nhân chỉ làm giảm tỷ lệ ly hôn trong năm đầu tiên sau kết hôn, nhưng làm gia tăng tỷ lệ ly hôn trong tất cả các năm tiếp theo.
  • 3 dạng thức chung sống trong thực tiễn pháp lý:
    • Dạng thức 1: Nam, nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 và hiện nay vẫn chung sống, được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp ("hôn nhân thực tế").
    • Dạng thức 2: Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn, hoặc trường hợp một/cả hai bên mất năng lực hành vi dân sự tự nguyện chung sống. Hành vi này không vi phạm điều cấm nhưng dứt khoát không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng.
    • Dạng thức 3: Nam, nữ chung sống như vợ chồng trái pháp luật (chưa đủ tuổi kết hôn, chung sống với người đang có vợ/chồng, chung sống giữa những người có quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng thuộc diện cấm kết hôn).
  1. Cơ chế giải quyết hậu quả pháp lý tại Việt Nam:
  • Xác định quyền yêu cầu (khởi kiện):
    • Đối với trường hợp được công nhận là vợ chồng (trước 03/01/1987): Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn thuộc về vợ, chồng hoặc cả hai người (Điều 51 Luật năm 2014); cha, mẹ, người thân thích có quyền yêu cầu ly hôn khi một bên bị bệnh tâm thần, mất nhận thức đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình. Người chồng bị hạn chế quyền ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
    • Đối với trường hợp không được công nhận là vợ chồng: Quyền yêu cầu thuộc về nam, nữ trong quan hệ sống chung, người đại diện hợp pháp/giám hộ nếu có bên mất năng lực hành vi. Đối với người đồng tính, chuyển giới, do Luật Hôn nhân và gia đình chưa bảo vệ nên quyền khởi kiện căn cứ Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trường hợp sống chung trái pháp luật làm vi phạm chế độ một vợ một chồng, quyền yêu cầu hủy/chấm dứt được mở rộng cho các chủ thể theo Điều 10 Luật năm 2014.
  • Thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
  • Giải quyết quyền nhân thân và tài sản cụ thể:
    • Trường hợp được công nhận là vợ chồng: Vợ chồng đương nhiên là người đại diện, người giám hộ của nhau (Điều 53 Bộ luật Dân sự năm 2015). Khi giải quyết ly hôn, Tòa án xem xét thuận tình ly hôn (Điều 55) hoặc ly hôn đơn phương (Điều 56) dựa trên chứng cứ về bạo lực gia đình (theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022) hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, hoặc có một bên bị tuyên bố mất tích theo Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    • Phân tích tình huống xung đột thực tiễn: Trường hợp năm 1982 ông A chung sống với bà B; năm 1985 ông A đi làm xa và cưới bà C (không đăng ký kết hôn), có 2 con chung nhưng vẫn qua lại chăm sóc bà B và bà B chấp thuận. Tác giả chỉ ra 2 luồng quan điểm giải quyết tại Tòa án: Luồng 1 chỉ công nhận hôn nhân thực tế giữa ông A và bà B (dẫn chiếu điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT), quan hệ với bà C vi phạm điều kiện một vợ một chồng; Luồng 2 cho rằng cả hai mối quan hệ đều xác lập trước 03/01/1987 mà Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 không quy định cụ thể điều kiện loại trừ nên quan hệ với bà C cũng được xem xét công nhận.
    • Trường hợp không được công nhận là vợ chồng: Tòa án thụ lý và ra bản án/quyết định tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Quyền và nghĩa vụ đối với con chung giải quyết theo Điều 15 Luật năm 2014 (bảo đảm quyền bình đẳng của cha mẹ với con như con trong thời kỳ hôn nhân). Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giải quyết theo thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 16 Luật năm 2014), bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con cái.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp cụ thể:

  • Làm rõ tính hai mặt của việc chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn: Một mặt phản ánh quyền tự do lựa chọn lối sống cá nhân trong xã hội hiện đại; mặt khác tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng về phân định tài sản, nuôi dưỡng con cái và để lại hệ lụy xã hội (52% quan hệ tình dục không dùng biện pháp bảo vệ, 43% nạo phá thai).
  • Đóng góp so với các công trình trước đây: So với các nghiên cứu của Bùi Thị Mừng (2011), Nông Thị Hồng Yến (2015), Lê Thu Trang (2023) hay Nguyễn Văn Cừ (2022), khóa luận này cập nhật số liệu khảo sát thực chứng mới năm 2024 đối với giới trẻ, đồng thời đào sâu phân tích khoảng trống pháp lý đối với các cặp đôi đồng giới và chuyển giới (vốn chiếm 9% - 11% dân số và có tới 28,9% sở hữu tài sản giá trị chung theo số liệu của Viện iSEE).
  • Đề xuất các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    • Cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết tiêu chí xác định hành vi "tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng" tại Khoản 7 Điều 3 Luật năm 2014, tránh tình trạng áp dụng máy móc, thiếu thống nhất giữa các Tòa án địa phương.
    • Bổ sung quy định pháp lý giải quyết hệ quả về tài sản và nghĩa vụ chung cho các cặp đôi đồng giới, chuyển giới khi chấm dứt cuộc sống chung, bảo đảm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật theo Điều 16 Hiến pháp năm 2013.
    • Ban hành hướng dẫn nghiệp vụ rõ ràng để tháo gỡ xung đột trong việc công nhận hôn nhân thực tế xác lập trước ngày 03/01/1987 đối với trường hợp một người chung sống với nhiều người.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi và điều kiện thực hiện của tác giả:

  • Mẫu khảo sát xã hội học trực tiếp của tác giả có quy mô tương đối nhỏ (dao động từ 55 đến 68 phản hồi), đối tượng khảo sát thu hẹp trong nhóm sinh viên tại một số trường đại học, chưa bao quát được các tầng lớp lao động, cư dân nông thôn hoặc các nhóm tuổi trung niên, cao niên.
  • Tác giả chưa tiếp cận được hệ thống bản án, quyết định giải quyết tranh chấp tài sản thực tế trên phạm vi toàn quốc để đánh giá cụ thể tỷ lệ áp dụng các điều khoản của Bộ luật Dân sự tại Tòa án các cấp.

Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được xác định:

  • Khảo sát thực tiễn xét xử quy mô lớn tại các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện đối với các vụ việc phân chia tài sản chung và phân định nghĩa vụ nợ của các cặp đôi sống chung không đăng ký kết hôn.
  • Nghiên cứu mô hình kết hợp dân sự (civil partnership/civil union) trong pháp luật quốc tế nhằm tìm kiếm cơ chế lập pháp bảo vệ quyền tài sản và nhân thân phù hợp cho cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Nội dung khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân sự: Cung cấp nguồn tư liệu tổng hợp về lịch sử lập pháp từ thời phong kiến đến Luật năm 2014; hệ thống hóa các mốc hiệu lực quan trọng (03/01/1987, 01/01/2001, 01/01/2003, 01/01/2015).
  • Cán bộ làm công tác tư pháp - hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện: Hỗ trợ nắm vững căn cứ thẩm quyền đăng ký kết hôn và xử lý các trường hợp kết hôn không đúng thẩm quyền theo Điều 13 Luật năm 2014.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư: Tham khảo các phân tích tình huống tranh chấp hôn nhân thực tế trước năm 1987, phương thức xác định tư cách đương sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các căn cứ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để phân chia tài sản chung.

Câu hỏi thường gặp

  1. Pháp luật hiện hành công nhận trường hợp ngoại lệ nào nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn vẫn là vợ chồng hợp pháp? Căn cứ Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP dẫn chiếu Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, pháp luật chỉ thừa nhận quan hệ vợ chồng hợp pháp đối với duy nhất trường hợp nam, nữ xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn và hiện nay vẫn duy trì cuộc sống chung.

  2. Khái niệm "chung sống như vợ chồng" theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đòi hỏi những điều kiện cấu thành nào? Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 định nghĩa: "Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng". Hành vi này cấu thành từ hai yếu tố: có sự đồng thuận cùng nhau góp sức, ăn ở chung ("tổ chức cuộc sống chung") và có các biểu hiện sinh hoạt như vợ chồng hợp pháp gồm quan hệ tình dục, có con chung, gây dựng tài sản chung, ra mắt gia đình hai bên ("coi nhau là vợ chồng").

  3. Khảo sát của tác giả ghi nhận những con số cụ thể nào về xu hướng sống chung không kết hôn của sinh viên? Khảo sát trực tiếp của tác giả đối với sinh viên cho kết quả: 39,7% lựa chọn sống chung không kết hôn trong tương lai (N=63); 47,6% bày tỏ quan điểm đồng tình với lối sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn (N=68); và 45,5% đồng tình với hiện tượng sống thử trước hôn nhân (N=55).

  4. Vướng mắc trong áp dụng pháp luật đối với trường hợp một người chung sống với nhiều người trước ngày 03/01/1987 là gì? Vướng mắc phát sinh từ việc Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 không quy định cụ thể các điều kiện loại trừ. Thực tiễn xét xử tồn tại hai luồng quan điểm: Luồng thứ nhất chỉ công nhận người chung sống đầu tiên (dẫn chiếu Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT) và coi quan hệ sau vi phạm điều cấm; luồng thứ hai cho rằng nếu quan hệ sau cũng xác lập trước ngày 03/01/1987 thì vẫn thuộc phạm vi xem xét công nhận hôn nhân thực tế.

  5. Khi giải quyết tranh chấp tài sản của các cặp đôi sống chung không đăng ký kết hôn (không thuộc diện hôn nhân thực tế), Tòa án căn cứ vào nguồn luật nào? Căn cứ Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của các bên được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định pháp luật khác có liên quan, kết hợp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con cái.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thúy Hằng đã khái quát toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và thực trạng áp dụng pháp luật đối với hiện tượng nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn tại Việt Nam. Công trình chỉ rõ những bất cập của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trong việc định lượng hành vi chung sống, tháo gỡ xung đột hôn nhân thực tế trước năm 1987 và khoảng trống pháp lý đối với cộng đồng người đồng giới, chuyển giới. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật do tác giả đề xuất đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị cho công tác hoàn thiện thể chế và hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân.