Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE GIẢI QUYẾT HẬU QUÁ PHÁP LÝ CUA VIỆC CHUNG SÓNG NHƯ VO CHONG 1. Khái niệm chung về chung sống như vợ chồng và giải quyết hậu quả pháp lý của việc chung sống như vợ chồng 1. Khái niệm nam nữ chung sống như vợ chong Theo Dai từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Y', “chung” được hiểu là cùng với nhau làm gì đó, như vậy, “chung sống” là cùng sống với nhau. “Vợ chồng” là danh từ chỉ vợ và chồng nói chung.
Từ đây, gộp nghĩa của hai từ lại ta có thé hiểu, “chung sống như vợ chồng” là việc cùng sống với nhau và coi nhau như vợ chồng mặc dù chưa đăng ký kết hôn. Trên thực tế, có nhiều khái niệm chung sống như vợ chồng như: Dưới góc nhìn của những nhà xã hội, văn hóa, chung sống như vợ chồng là việc sống thử - chung sống phi hôn nhân, theo đó các cặp nam nữ về sống chung với nhau như vợ chồng, nhưng không tô chức hôn lễ cũng như đăng ký kết hôn. Dưới góc độ pháp lý thuật ngữ “chung sống như vợ chồng” chỉ quan hệ vợ chồng mà khi xác lập quan hệ đó các bên nam nữ không tiễn hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Mặc dù, không có giấy chứng nhận kết hôn nhưng các bên nam nữ vẫn chung sống với nhau như vợ chồng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, với gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, cần phải thay rằng, hai quan điểm kê trên đều chưa bao quát được toàn bộ các trường hợp chung sống như vợ chồng và đặc điểm của nó. Bởi, thứ nhất, về mặt chủ thể, ở cả hai khái niệm đều chỉ nói tới nhóm chủ thể duy nhất là nam - nữ. Nhưng trong thực tế, ta không thấy hiếm gặp các trường hợp chung sống như vợ chồng giữa nam - nam; nữ - nữ; người chuyển giới nhưng chưa tiến hành phẫu thuật chuyên đôi giới tính, mặc dù ở cả phương diện sinh học và pháp luật đều đang mang một giới tính nhưng lại chung sống với người cùng giới 'Nguyễn Như Y va d.g (1996), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo Duc, Hà Nội, tr.399 tính đó của mình. Ví dụ như những trường hợp vì không có đủ khả năng tài chính, lo sợ các van đề y tế mà không tiến hành phẫu thuật chuyền giới, nhìn bề ngoài và trên giấy tờ là nam nhưng vẫn yêu và sống chung với một nam giới khác.
Ngoài ra, đối với người chuyển giới còn có trường hợp người đó đã phẫu thuật chuyên đổi giới tính, nghĩa là về mặt hình hài người đó hoàn toàn khác biệt với giới tính ghi trong các giấy tờ tùy thân mà pháp luật quy định. Khi đó, việc chung sống giữa họ sẽ được thực hiện với một người khác giới tính hiện có của mình. Như vậy, hai khái niệm đã làm hẹp phạm vi chủ thể cần có. Thứ hai, là về hành vi chung sống.
Trong việc chung sông như vợ chồng phải có chứng cứ là hai người đã và đang chung sống với nhau như vợ chồng về mặt thực tế, nếu không có hành vi chung sống thì vấn đề công nhận vợ chồng cũng không cần phải đặt ra. Trong thực tế việc xác định nam nữ chung sống như vợ chồng gặp nhiều khó khăn. Căn cứ dé làm chuẩn mực cho việc đánh giá về hành vi chung sống như vợ chồng của các bên hết sức đa dạng và phong phú. Vì vậy, tông hợp qua thực tiễn xét xử của Toà án ta có thể chia thành hai nhóm biểu hiện của hành vi chung sống như vợ chồng là tổ chức chung sống công khai, có thé t6 chức lễ cưới hoặc không, có thể có đời sống tình dục hoặc không, cùng tiến hành chăm sóc, yêu thương lẫn nhau.
Hoặc là việc chung sống lén lút, không công khai, cũng có thé có đời sống tinh dục hoặc không và van coi nhau như vợ chồng mà chăm sóc nhau. Như vậy, một khái niệm hoàn chỉnh phải nêu bật lên được cả hai nhóm hành vi là công khai và không công khai. Tuy nhiên, đọc hai khái niệm nêu trên, ta không thấy xuất hiện yếu tô hành vi chung sống. Thứ ba là về hậu quả của hành vi.
Đây là một yếu tố quan trọng, giúp ta phân biệt được chung sống như vợ chồng với một vài các hiện tượng khác như ngoại tình, cặp bồ. Ta có thé ké tới một số hậu quả trên thực tế như: có con chung, có tài sản chung,. Tuy nhiên, trên góc độ thực tế, có thể nhận định rằng, VIỆC CÓ con chung hay tài sản chung. là điều tất yếu xảy ra với những cặp chung sống như vợ chồng.
Và vì vậy, theo ý kiến của tác giả, không nhất thiết phải đề cập tới phương diện này trong khái niệm. 10 Như vậy, từ ba phân tích kê trên, ta chưa có được một khái niệm hoàn chỉnh cho chung sống như vợ chồng. Hiện nay, mặc dù trên nhiều lĩnh vực, phương diện, có nhiều nhà nghiên cứu hay các luật sư, thâm phán đã đưa ra quan điểm nhưng hau như vẫn chưa có một khái niệm nào là thực sự đầy đủ và bao hàm toàn bộ các trường hợp cũng như biểu hiện của nó trên thực tế. Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) năm 2014 ra đời đã quy định tại Khoản 7 Điều 3 như sau: “Chung sống như vợ chong là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”.
Như vậy, ké từ ngày 01/01/2015 (ngày Luật HN&GD năm 2014 có hiệu lực) thì đây là khái niệm pháp lý chính thức dành cho người dân, người thực thi pháp luật và áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ vào ba tiêu chí phân tích như trên, khái niệm mà Luật HN&GD đưa ra vẫn chưa hoàn chỉnh và còn nhiều thiếu sót. Chung sống như vợ chồng mà pháp luật thừa nhận chỉ tồn tại giữa nam và nữ. Nhưng cần lưu ý rằng, việc xác định giới tính là nam hay nữ sẽ được căn cứ vào các giấy tờ tùy thân như chứng minh thư, giấy khai sinh, hộ khau,.
chứ không phải căn cứ vào ngoại hình hay bản chất con người thật. Điều này đã vô tình làm thiếu đi một nhóm các chủ thê khác. Đồng thời cũng là sự bất bình đăng với những người đồng giới, chuyển giới. Về hành vi, ở đây luật chỉ nêu lên một cụm từ mơ hồ và khó hiểu là “2ổ chức cuộc sống chung”.
Do đó, dé hiểu một cách đầy đủ thì ta cần hiểu là việc có tổ chức lễ cưới khi về chung sống như với nhau, việc nam nữ về chung sống với nhau có được gia đình (một hoặc hai bên) chấp nhận, cùng chung sống dưới một mái nhà một cách công khai hoặc không công khai, thường xuyên, có quan hệ tình dục với nhau hoặc không. Cụm từ “coi nhau là vợ chong” cũng là cụm từ chung chung. Ta có thé tam hiểu đây là cách thức mà hai bên chung sống, đối xử với nhau và xuất phát từ đây sẽ phát sinh ra hậu quả của hành vi như đã trình bày ở trên. Hai bên “coi nhau là vợ chồng” nên chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình, họ trao cho nhau những quyên và gánh vác các nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho các cặp đôi đã đăng ký kết hôn như việc tôn trọng, yêu thương, vun đắp cuộc sống gia đình.
II Một lần nữa, cần khăng định rằng, luật thực định đã đưa ra một khái niệm chưa hoàn chỉnh, chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống ngày nay. Khái niệm mà Luật HN&GD quy định không chỉ chưa bao quát được toàn bộ các nhóm chủ thé mà còn thiếu những thông tin cần thiết, cụ thé dé nhận biết quan hệ này. Căn cứ vào một loạt các phân tích ké trên, tác giả xin đưa ra khái niệm chung sống như vợ chồng như sau: Chung sống như vợ chong là việc hai cá nhân thoả thuận chung sống với nhau như vợ chong mà không đăng ký kết hôn” Thực tế trong những năm qua cho thấy tình trang nam nữ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn xảy ra tương đối phổ biến. Có rất nhiều nguyên nhân, lý do dẫn đến việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ý kết hôn, do vậy trên thực tế cũng tồn tại nhiều trường hợp chung sống như vợ chồng trong xã hội.
Mỗi loại hình chung sống lại mang trong minh căn nguyên khác nhau từ đó cũng dé lại những hậu quả khác nhau, do vậy cách giải quyết hậu qua pháp ly cũng từ đó mà khác nhau. Căn cứ vào các quy định của Luật HN&GD, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả xin đưa ra một số trường hợp chung sống như vợ chồng đang tôn tại trong xã hội hiện nay: * Nam nữ chung sống như vợ chồng không trái pháp luật Nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không bị coi là trái pháp luật là việc chung sống như vợ chồng không vi phạm các hành vi cam quy định tại các các điểm b,c và d Khoản 2 Điều 5 Luật HN&GD năm 2014: - Không tảo hôn; - Không chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng hoặc chung sống như vợ chồng hoặc chưa có vợ, chưa có chồng màchung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; - Không chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rê, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kê với con riêng của chông. 12 Tuy nhiên, hiện nay pháp luật về hôn nhân gia đình chưa quy định cụ thê về các trường hợp chung sống như vợ chồng cụ thé mà lại chỉ đề cập đến thuật ngữ: “nam, nữ có diéu kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chong” (khoản 1, Điều 14 Luật HN&GD 2014). Việc quy định về việc chung sống như vợ chồng như vậy là chưa đầy đủ và chính xác, nội hàm của khái niệm này chưa liệt kê đầy đủ các trường hợp chung sống như vợ chồng trên thực tế.
Như vậy, khái niệm đó hẹp hơn so với trường hợp chung sống như vợ chồng không trái pháp luật ở trên. * Nam nữ chung song như vợ chong trái pháp luật Chung sống như vợ chong trái pháp luật là việc nam nữ chung sống với nhau nhưng không tiến hành đăng kí kết hôn (DKKH); đồng thời việc chung sống này vi phạm quy định cấm của pháp luật tại Điều 5, Luật HN&GD năm 2014.