Chương 1. Cơ sở lý luận về chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn không được công nhận quan hệ vợ chồng 1. Các hướng tiếp cận khác nhau về trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn không được công nhận quan hệ vợ chồng 1. Tiếp cận dưới góc độ xã hội về việc chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn không được công nhận quan hệ vợ chồng.
Xã hội nguyên thủy (hay còn gọi là công xã thị tộc) là giai đoạn đầu tiên và dài nhất trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có con người xuất hiện trên Trái Đất đến khi xã hội nguyên thủy chuyển đổi thành xã hội giai cấp và xuất hiện chế độ nhà nước. Xã hội nguyên thủy phát triển kế thừa lối sống xã hội bầy đàn của linh trưởng tổ tiên, và thể hiện gần gũi nhất hiện có hai loài là tinh tinh và bonobo ở châu Phi1. Lúc này việc quan hệ tính giao để thỏa mãn sự ham muốn của giống đực và giống cái. Bên cạnh đó, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, HN&GĐ là những hiện tượng xã hội phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” (1884), Ph. Ăngghen đã phân tích cho rằng: Lịch sử xã hội loài người đã phát sinh và tồn tại nhiều hình thái HN&GĐ. Bước phát triển từ hình thái gia đình thấp hơn sang hình thái gia đình cao hơn, suy cho đến cùng phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế- xã hội. Theo Ông: “Có ba hình thức chính, tương ứng về đại thể với ba giai đoạn phát triển chính của nhân loại.
Ở thời đại mông muội, có chế độ quần hôn; ở thời đại dã man có chế độ một vợ, một chồng được bổ sung bằng tệ ngoại tình và nạn mại dâm. Ở giai đoạn cao của thời đại dã man, thì giữa chế độ hôn nhân cặp đôi và chế độ một vợ, một chồng, có xen kẽ sự thống trị của người đàn ông đối với nữ nô lệ và chế độ nhiều vợ”2. “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” được Ph. Ăng ghen viết trong vòng hai tháng, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1884 nhân có những công trình nghiên cứu của nhà khoa học tiến bộ người Mỹ- Luy xơ H.
Moocgan về “Xã hội cổ đại”. Trong Lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất tác phẩm này, Ph.Ăng ghen đã chỉ rõ “những chương sách sau đây, trên một mức nào đó, là sự thực hiện một di chúc”.Mác, chứ không phải ai khác, đã dự định trình bày những kết quả của công trình nghiên cứu H.Moocgan gắn với những kết luận của công cuộc nghiên cứu lịch sử theo quan niệm duy vật của mình. “Trong những giới hạn nào đó, tôi có thể nói 1 Người cùng với tinh tinh và bonobo là 3 loài họ hàng với nhau. Theo link https://vi.org/wiki/X%C3%A3_h%E1%BB%99i_nguy%C3%AAn_th%E1%BB%A7y.
Ăng ghen, Toàn tập, Tập VI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, Tr. 10 là cả hai chúng tôi và bằng cách đó mới làm sáng tỏ được tất cả ý nghĩa của những kết quả ấy3”. Quan điểm duy vật lịch sử mà Mác đã phát hiện ra cách đây 40 năm (1844) và Moogan đã phát hiện lại theo cách của Ông khi so sánh thời đại dã man với thời đại văn minh dựa trên những điểm chủ yếu. Những trật tự xã hội mà trong đó, các cộng đồng người của một thời đại lịch sử nhất định, một quốc gia nhất định đang sinh sống là “do hai loại sản xuất quy định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình”4.
Bên cạnh đó, khi tiếp cận về khía cạnh giá trị gia đình ở Việt Nam cho thấy hôn nhân và gia đình Việt Nam đang trải qua sự chuyển đổi quan trọng, từ mô hình truyền thống đến những đặc điểm hiện đại và cởi mở hơn. Gia đình Việt Nam thường được chia làm hai dạng cơ bản: Gia đình truyền thống và gia đình hiện đại. Trong đó, hiện nay tính cá nhân là một chiều cạnh so sánh văn hóa với chủ nghĩa gia đình. Nền tảng cơ bản của tính cá nhân nằm ở chỗ quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân.
Mưu cầu này cần có sự tự do, chủ động, và tự chịu trách nhiệm. Về mặt chính trị, tính cá nhân thực sự là nhận ra mỗi người có quyền có cuộc sống và hạnh phúc riêng. Nhưng điều đó cũng có nghĩa kết hợp với những cá nhân khác để đấu tranh và bảo vệ các thể chế cho phép quyền đó. Tính cá nhân đánh giá cao sự độc lập, riêng tư và tôn trọng người khác.
Tính cá nhân coi mỗi người như một cá thể độc lập, một thực tế tối cao chiếm hữu quyền không thể chuyển nhượng với chính cuộc sống của mình, quyền được sống một cách hợp lý theo lẽ tự nhiên. Trong một nền văn hóa đề cao tính cá nhân, gia đình trở nên mờ hơn vì không còn giữ vị trí trung tâm và nhiều chức năng của gia đình đã bị mất đi. Gia đình hiện đại, cũng từ bỏ nhiều chức năng vốn được hình thành trước đây5. Những đổi thay trong giá trị và chuẩn mực đã tác động mạnh mẽ đến thái độ và cách ứng xử của mỗi cá nhân trong xã hội ngày nay vì vậy nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng sẽ trở thành tất yếu khách quan sẽ phát triển trong tương lai khi mà cuộc sống ngày càng hiện đại tính cá nhân của con người càng cao việc lựa chọn sống chung như vợ chồng mà không kết hôn cũng là hành vi phù hợp.
Vậy khi tiếp cận dưới góc xã hội thì việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn là một hiện tượng xã hội mang tính tất yếu khách quan và sẽ tồn tại trong mọi giai đoạn của xã hội. Tiếp cận dưới góc độ pháp lý của việc chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn không được công nhận quan hệ vợ chồng 3 Các Mác và Ph.44 5 Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới. Số 1, 2017, trang 33-45 11 Nói về tình yêu và hôn nhân, trước hết Ph.Ăngghen khẳng định đó là những giá trị cao quý của con người, là những quyền hết sức cơ bản của con người - quyền được tự do yêu đương và tự do kết hôn. Quyền tự do yêu đương được đặt trước quyền từ do kết hôn.
Tức tình yêu sẽ dẫn đến kết hôn nhưng nếu không kết hôn thì tình yêu đó vẫn mãi tồn tại và là nền tảng quan trọng nhất cho sự bền vững của quan hệ giữa nam và nữ. Quyền tự do yêu đương và quyền tự do kết hôn là quyền của cả đàn ông và phụ nữ. Bởi lẽ, họ đều là chủ thể, là những thành tố như nhau và không thể thiếu được của tình yêu và hôn nhân. Họ đều có quyền tự do yêu nhau, tự do đi đến hôn nhân và cộng đồng xã hội phải tôn trọng và bảo vệ, phải có nghĩa vụ và trách nhiệm tạo điều kiện cho họ được hưởng những quyền cao quý và hết sức thiêng liêng đó.
Ông viết: “Kết hôn vì tình yêu đã được tuyên bố là quyền của con người; hơn nữa, không những là droit de l’homme (quyền của người đàn ông), mà còn là - đây là ngoại lệ - droit de la femme (quyền của người đàn bà)”6 Ngoài ra C.Mác đã từng viết “không ai bị buộc phải kết hôn, nhưng ai cũng bị buộc phải tuân theo Luật hôn nhân khi người đó kết hôn. Hôn nhân không thể phục tùng sự tùy tiện của những người kết hôn, mà trái lại, chính sự tùy tiện của họ phải phục tùng bản chất của hôn nhân”7. Ăngghen cho rằng cơ sở nền tảng của hôn nhân và cuộc sống bền vững phải là tình yêu, là tình thương yêu lẫn nhau một cách thực sự giữa hai người yêu nhau. Ở đây, quan hệ kinh tế, điều kiện sinh sống không phải là không cần thiết, song tiền đề quan trọng và quyết định vẫn cứ phải là tình yêu.
Ph Ăngghen khẳng định: “Trong lý thuyết đạo đức cũng như trong thơ ca, không một quan niệm nào được xác lập bất di bất dịch và vững chắc bằng quan niệm cho rằng bất cứ cuộc hôn nhân nào không dựa trên tình thương yêu lẫn nhau và trên sự thỏa thuận thật sự tự do giữa hai vợ chồng, đều là vô đạo đức cả”8. Và, “nếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu mới là đạo đức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong đó tình yêu được duy trì, mới là đạo đức mà thôi”9. Hôn nhân và cuộc sống gia đình bền vững được hình thành trên cơ sở củ tình yêu và sự thỏa thuận tự do thật sự giữa hai vợ chồng, theo Ph. Ăngghen, cần phải trở thành một nguyên tắc và bất cứ sự vi phạm nào đối với nguyên tắc này đều dẫn đến hôn nhân không tự do và cuộc sống gia đình không bền vững.
Bên cạnh đó, hiện nay, chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn được ghi nhận đó là quyền con người được quy định trong những văn bản pháp luật quốc tế. Quyền con người là một giá trị phổ quát và không thể phân chia “mọi người sinh ra tự 6 C. Ăngghen Toàn tập, t. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.
7 Các Mác, Bản dự luật về ly hôn - Các Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, Tập 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1978, tr. 8 CMác và Ph.
Ăng ghen, sđd tr.126 9 CMác và Ph. Ăng ghen, sđd tr.128 12 do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái”10. Do vậy, nói đến nhân quyền là nói đến “sự giống nhau cho mọi người ở mọi nơi, không phân biệt giàu nghèo, nam nữ hay nơi sinh sống”11. Các quyền con người có liên hệ mật thiết với nhau, bởi lẽ quyền cơ bản này chỉ có thể thực hiện được khi đã có sự bảo đảm trong việc thực hiện các quyền cơ bản khác.
“Mọi người được sinh ra tự do và bình đẳng về quyền và phẩm giá. Mọi người, bất kể khuynh hướng tính dục hay bản dạng giới đều được hưởng đầy đủ các quyền con người”12. Việc cá nhân lựa chọn sống với ai là người khác giới tính hay cùng giới tính cũng xuất phát từ quyền con người. Việc chung sống đó cũng nhằm thỏa mãn về tình cảm, sự gắn bó yêu thương nhau đó cũng là một trong những tiêu chuẩn về cuộc sống đầy đủ theo quy định của Bộ nguyên tắc Yogyakarta 2007.