CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG ĐÊ SÔNG VIỆT NAM , CÁC SỰ CỐ VÀ CÁC GIẢI PHÁP GIA CƯỜNG ỔN ĐỊNH CHO NỀN VÀ MÁI DỐC ĐÊ SÔNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XÂY DỰNG ĐÊ SÔNG VIỆT NAM VÀ NHỮNG ĐẶC THÙ ĐÊ SÔNG THANH HÓA 1.1 Tổng quan về tình hình xây dựng đê Sông Việt Nam Việt nam là nước có hệ thống sông ngòi dày đặc. Trong các thời kỳ xa xưa, giao thông thủy đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, do cấu tạo địa hình sông ngòi đều có dòng chảy theo chiều từ Tây sang Đông hoặc Tây Bắc - Đông Nam nên đã phân chia lãnh thổ nước ta thành các vùng miền tự nhiên khác nhau.
Vào thời kỳ phong kiến Việt nam, giao thông thủy phát triển cũng như nước ta là một nước nông nghiệp thuần túy nên việc lợi dụng nguồn lợi của dòng nước tự nhiên để phục vụ nông nghiệp, sinh hoạt của người cũng như đảm bảo chống lụt, hạn hán, mất mùa các triều đại đã tiến hành đắp đê bao cho các con sông. Lịch sử xây dựng đê sông ở nước ta cho biết: dưới thời nhà Lý, tháng 3 năm Mậu Tý (1108), con đê đầu tiên được đắp ở phường Cơ Xá với mục đích bảo về thành Thăng Long khỏi bị nước sông Hồng tràn ngập. Đến đời nhà Trần, đê được đắp ở nhiều nơi cất giữ không cho nước sông tràn vào để kịp làm vụ chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong thì lại cho nước tự do tràn vào đồng ruộng. Đời Lê, những con đê lớn hơn được đắp mới và tôn tạo dọc hai bờ sông Nhị Hà, việc đắp đê ở thời kỳ này cho là quá giới hạn làm cho sông Hồng trở lên hung dữ, nên đến đời nhà Nguyễn trước năm 1938 Nguyễn Công Trứ đề xuất giải pháp nắn chỉnh, khơi đào đoạn khởi đầu sông Đuống.
Đến nay Việt Nam có hơn 8.000km đê, trong đó gần 6.000km đê sông và khoảng 2. Riêng đê sông chính 3.000km đê biển quan trọng. Có gần 600 kè các loại và 3.000km bờ bao chống lũ sớm, ngăn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long. Đặc điểm của quá trình hình thành các tuyến đê ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ trong buổi đầu sơ khai là quá trình tự phát do nhân dân làm với trình độ nhận thức và công cụ lao động thô sơ.
Vấn đề chọn tuyến và xử lý nền chỉ được giải 5 quyết hết sức đơn giản. Chỉ có những năm sau này một số tuyến đê bị vỡ khi có lũ lớn hoặc một số nơi có sự đổi dòng hoặc phát triển thêm thì việc lựa chọn tuyến và công tác xử lý nền đê mới được chú ý đầy đủ đến các điều kiện kỹ thuật. Hiện nay hệ thống đê sông và đê biển ngày càng được hoàn thiện, nhiều tuyến đê sông và đê biển được tu bổ, nâng cấp ngoài nhiệm vụ đảm bảo chống lũ bảo vệ các vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản và nghề muối còn có nhiệm vụ tham gia vào mạng lưới giao thông, phát triển du lịch. Hàng nghìn vị trí nguy hiểm của đê đã và đang được xử lý, mặt đê được mở rộng (từ 5 đến 10m) rải nhựa hoặc bê tông, mái đê phía sông được gia cố bằng đá lát khan trong khung bê tông, tấm cấu kiện BT trong khung bê tông., mái phía đồng được trồng cỏ.
Vấn đề sửa chữa, nâng cấp các tuyến đê hiện có và đắp mới các tuyến đê biển được nhà nước đặc biệt quan tâm. Mỗi năm nguồn vốn ngân sách dành cho công tác trên không nhỏ góp phần ổn định xã hội, an sinh kinh tế và củng cố lòng tin của nhân dân đối với nhà nước. Trong đó công tác duy tu, bảo dưỡng, khắc phục các sự cố gây mất an toàn cho đê là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng. Những đặc thù đê Sông Thanh Hóa 1.
Hiện trạng đê Thanh hoá Thanh hóa là một tỉnh nằm giữa Bắc bộ và Trung Bộ, có vị trí quan trọng trong lịch sử dân tộc. Do đặc điểm địa hình và địa lý, Thanh Hóa trở thành một khu vực có cấu tạo tương đối hoàn chỉnh về tất cả các mặt. Thanh Hóa có biển, có rừng, có đồng bằng. Đồng bằng Thanh Hóa được cấu tạo bởi phù sa của 24 con sông lớn nhỏ, trong đó có các con sông tự nhiên chính như Sông Mã, Sông Chu, sông Yên và các chi lưu của chúng.
Với tổng chiều dài đê là 1.008km trong đó có 315km đê từ cấp I đến cấp III và 693km đê dưới cấp III. Hệ thống sông Mã là một con sông lớn có lưu vực là 28.490km2 chạy xuyên suốt 2 quốc gia là nước cộng hòa nhân dân Lào và việt Nam. Ở Việt Nam lưu vực sông trải rộng trên 5 tỉnh là Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La và Điện Biên. Phần lưu vực sông Mã nằm trên địa phận tỉnh Thnah Hóa chiếm 1/3 diện tích lưu vực của sông và lại là vùng trung và hạ du con sông nên diễn biến và ảnh hưởng của 6 dòng chảy trực tiếp tác động lên Thanh Hóa.
Dòng chính sông Mã dài 512km. Phần chảy qua lãnh thổ Lào là 102km và chảy trên lãnh thổ Việt Nam là 410km. Dòng chính sông Mã bắt nguồn từ vùng núi cao thuộc huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên và đổ ra biển theo 3 cửa là cửa Hới, cửa Lạch Trường và cửa Lạch Sung. Trong đó cửa Hới là cửa chính của dòng chính sông Mã.
Hệ thống đê sông Mã bao gồm đê tả sông Mã dài 65 km, bắt đầu từ Eo Lê xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Lộc đến giáp đê biển xã Hoằng Phụ, huyện Hoằng Hoá. Trong đó: Đê cấp I dài 15. Đê cấp II dài 23.8km từ K23-K28 và K43+700m-K62+5. Đê cấp III dài 23km từ K0-K23 và đê cấp IV dài 2.
Đê Hữu sông Mã dài 62,296km từ chân núi Đồn Trang, xã Quí Lộc, huyện Yên Định đến bờ biển xã Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn, trong đó: Đê cấp I dài 15km từ K36-K51; Đê cấp II dài 44km từ K0-K36 & K51-K59; Đê cấp IVdài 3,296km từ K59-K62+296m. Đê hữu sông Mã: + Về chống tràn: Toàn tuyến còn 1 đoạn từ K59+830m-K60+800m: là đoạn đê cửa sông, chịu ảnh hưởng của triều và gió bão; hiện tại cao trình đỉnh đê từ (+2.50), chưa đảm bảo chống được lũ khi triều cường, gió bão mạnh. + Chiều rộng mặt đê gồm có 9 đoạn đê dài 50.905m chiều rộng mặt B≥5m, còn lại 10.391m chiều rộng mặt đê từ 3,5-4,8m. + Về cơ đê: Toàn tuyến có 7 đoạn dài 4.845m đê đã có cơ: K7+350m- K7+650m; K20+470m-K20+830m; K28+320m-K29+405m; K30+737m- K32+333m; K33+934m-K34+852m; K36+200m-K36+466m và K36+640m- K36+960m + Về cứng hoá mặt đê: Mặt đê toàn tuyến về cơ bản đã được cứng hoá bằng bê tông, rải nhựa và cấp phối đá dăm, trong đó: Bê tông mặt đê: 9 đoạn dài 32.374m; Mặt đê được rải nhựa: 5 đoạn dài 8.240m; Còn lại đã được cấp phối đá dăm + Về thân đê và nền đê: trong những năm lũ lớn trước đây, đã xuất hiện 15 điểm rò rỉ, thẩm lậu và 18 vị trí mạch đùn, mạch sủi đã được đắp mở rộng mặt cắt, đắp cơ và đắp lấp ao, hồ.
7 + Về cây chắn sóng: Trên tuyến có 6 đoạn dài 4.920m đã trồng cây chắn sóng K2-K4,0; K6-K6+300m; K7+200m-K8; K27+600m-K27+850m; K30+700m- K31+800m và K45+500m-K46. Còn 1 đoạn, mặt thoáng sông rộng, phía sông có bãi chưa có cây chắn sóng: K4,0-K5; K9-K11+200m; K12+400m-K15; K20+200m- K20+300m; K21+470m-K21+800m; K22+100m-K27; K46-K51; K36+640m- K36+940m; K40+500m-K41+150m; K46-K47; K50-K51. + Về sạt trượt, đê sát sông và kè: Trên toàn tuyến có 31 đoạn kè, với 22.526,5m kè lát mái và 24 mỏ hàn; trong đó: Có 23 đoạn kè bảo vệ đê, với chiều dài 14.648,5m kè lát mái và 24 mỏ hàn. Có 8 kè lát mái bảo vệ khu dân cư và bãi sông bị sạt lở, dài 7.
+ Về chất lượng cống dưới đê: Trên toàn tuyến có 45 cống dưới đê và 1 âu thuyền, gồm 30 cống tiêu, 16 cống tưới (Có 13 cống trạm bơm); trong đó 2 cống đã hoành triệt tạm (cống TB Quý Lộc K0+950m và cống Đắc Lộc K6+330m). Đê tả sông Mã + Về chống tràn: Hiện tại còn 2 đoạn đê chiều dài 130m, cao trình đỉnh đê thấp, bao gồm: - K6,+650m-K7: là đoạn đê kết hợp đường làng, địa hình hai bên cao ngang mặt đê, cao trình còn thấp 0,5-0,58m. - K41+250m-K41+300m Thị trấn Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa: là đoạn đê nối từ QL1A mới qua QL IA cũ vào đầu đê, chiều cao còn thiếu 0,73m. + Chiều rộng mặt đê: Toàn tuyến có 53.124m, chiều rộng mặt đê B≥5m; còn lại 11 đoạn dài 11.876m, mặt đê B<5m, gồm: K4+700m-K4+738m; K8+639m- K8+800m; K8+850m-K9+131m; K18+432m-K18+475m; K22+500m-K23; K40+650m-K43+715m; K46-K48; K58+075m-K62500m và đoạn K5+794m- K6+577m & đoạn K6+650m-K7 là đoạn đê kết hợp đường làng.
+ Về cơ đê: Có 10 đoạn dài 4. Còn lại 4 đoạn đê cao trên 5 m nhưng chưa có cơ: K26-K27; K41-K42; K43-K44; K47-K48 dài 4000m + Về cứng hoá mặt đê: Có 62.607m mặt đê đã được cứng hoá, trong đó: 10 đoạn dài 32.783m mặt đê được cứng hoá bằng bê tông; có 3 đoạn dài 11.255m mặt đê được rải nhựa bán thâm nhập; có 7 đoạn dài 18.799m mặt đê được rải cấp phối; còn lại 2.393m, mặt đê chưa được cứng hoá, đây là các đoạn đê có chiều rộng mặt nhỏ chưa có điều kiện tu bổ nâng cấp và không phải là tuyến giao thông chính. + Về thân đê và nền đê: Qua các năm lũ lớn trước đây, trên toàn tuyến đã xảy ra 10 điểm rò rỉ, thẩm lậu và 5 vị trí mạch đùn, mạch sủi đã được đắp mở rộng mặt cắt, khoan phụt vữa, đắp cơ hoặc đắp, lấp ao hồ phía đồng. + Về cây chắn sóng: Trên tuyến có 8 đoạn bãi sông rộng đã có cây chắn sóng dài 4.510m; còn lại 9 đoạn dài 8.269m, bãi sông rộng nhưng chưa có cây chắn sóng, gồm: Huyện Vĩnh Lộc có 5 đoạn dài 5.369m; huyện Hoằng Hóa còn 4 đoạn dài 2.
+ Về sạt trượt, đê sát sông và kè: Trên toàn tuyến có 30 đoạn kè, với 25.388,4m kè lát mái và 65 mỏ hàn, trong đó: Có 21 đoạn kè bảo vệ đê, gồm: 18.311m kè lát mái và 55 mỏ hàn; Có 9 đoạn kè bảo vệ khu dân cư và bãi bị sạt lở với chiều dài 7.077,3m kè lát mái và 10 mỏ hàn. Nhìn chung các kè ổn định và phát huy tác dụng bảo vệ bờ + Về chất lượng cống dưới đê: Toàn tuyến có 58 cống dưới đê, gồm 32 cống tiêu, 8 cống tưới và 28 cống trạm bơm. Nhìn chung các cống hoạt động ổn định. Hệ thống sông Chu là một nhánh lớn phía hữu của sông Mã.
Dòng chính sông Chu dài 392km, có diện tích lưu vực 7.7% tổng diện tích lưu vực của hệ thống sông Mã.