Nghiên cứu giải pháp xử lý nước thải khai thác và chế biến khoáng sản chì kẽm tại tỉnh Bắc Kạn

Luận án tiến sĩ khoa học môi trường nghiên cứu giải pháp xử lý nước thải khai thác và chế biến khoáng sản chì kẽm tại Bắc Kạn, hướng đến bảo vệ môi trường bền vững.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

175
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Hiện trạng khai thác và chế biến khoáng sản chì, kẽm

1.2. Vật liệu trong xử lý ô nhiễm kim loại nặng

1.3. Thực vật trong xử lý ô nhiễm kim loại nặng

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giải pháp xử lý nước thải khai thác chì kẽm tại Bắc Kạn

Luận án tiến sĩ khoa học môi trường của Lê Sỹ Chính tập trung vào giải pháp xử lý nước thải từ hoạt động khai thác chì kẽm tại tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu này nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước do kim loại nặng gây ra, đặc biệt là tại khu mỏ Chợ Đồn. Công nghệ xử lý nước được đề xuất kết hợp giữa vật liệu hấp phụ biến tính từ bùn thải và thực vật địa phương như cây Sậy. Phương pháp này không chỉ hiệu quả trong việc loại bỏ kim loại nặng mà còn thân thiện với môi trường và tiết kiệm chi phí.

1.1. Hiện trạng ô nhiễm nước thải khai thác chì kẽm

Khu mỏ Chợ Đồn, Bắc Kạn, là một trong những khu vực khai thác chì kẽm lớn nhất Việt Nam. Hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản đã gây ra ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là nước thải chứa kim loại nặng như chì, kẽm, cadmium và asen. Các chất này xâm nhập vào nguồn nước mặt và nước ngầm, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nồng độ các kim loại nặng trong nước thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép, đòi hỏi các giải pháp xử lý nước thải hiệu quả và bền vững.

1.2. Công nghệ xử lý nước thải kết hợp vật liệu và thực vật

Luận án đề xuất công nghệ xử lý nước kết hợp giữa vật liệu hấp phụ biến tính từ bùn thải mỏ sắt và thực vật địa phương như cây Sậy. Vật liệu hấp phụ được chế tạo từ bùn thải qua quá trình biến tính nhiệt và kết hợp thủy tinh lỏng, có khả năng loại bỏ hiệu quả các kim loại nặng. Cây Sậy được sử dụng trong hệ thống bãi lọc trồng cây, giúp xử lý nước thải thông qua cơ chế hấp thụ và tích lũy kim loại. Sự kết hợp này mang lại hiệu quả cao, giảm chi phí và thân thiện với môi trường.

II. Nghiên cứu và ứng dụng thực tế

Luận án không chỉ dừng lại ở nghiên cứu lý thuyết mà còn triển khai thử nghiệm thực tế tại khu chế biến Lũng Váng, Chợ Đồn. Kết quả cho thấy, giải pháp xử lý nước thải kết hợp vật liệu và thực vật đạt hiệu quả cao trong việc loại bỏ kim loại nặng, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới trong việc xử lý nước thải khai khoáng tại Việt Nam, đặc biệt là các khu vực có điều kiện tương tự như Bắc Kạn.

2.1. Kết quả thử nghiệm tại Lũng Váng

Thử nghiệm tại khu chế biến Lũng Váng cho thấy, hệ thống kết hợp vật liệu hấp phụ và cây Sậy đã loại bỏ hiệu quả các kim loại nặng như chì, kẽm, cadmium và asen. Hiệu suất xử lý đạt trên 90% đối với hầu hết các kim loại, đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nước thải. Hệ thống này cũng cho thấy tính ổn định và khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tế.

2.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trườngquản lý nước thải tại các khu vực khai thác khoáng sản. Việc tận dụng bùn thải từ hoạt động chế biến sắt và thực vật địa phương không chỉ giúp giảm chi phí xử lý mà còn góp phần phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc áp dụng rộng rãi công nghệ xử lý nước này tại Việt Nam và các quốc gia có điều kiện tương tự.

III. Đóng góp mới và triển vọng ứng dụng

Luận án đã đưa ra những đóng góp mới trong lĩnh vực xử lý nước thải khai khoáng, bao gồm việc chế tạo thành công vật liệu hấp phụ từ bùn thải và xây dựng giải pháp kết hợp vật liệu với thực vật địa phương. Nghiên cứu này không chỉ giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường mà còn mở ra hướng đi mới trong việc tái sử dụng chất thải từ hoạt động khai thác khoáng sản.

3.1. Đóng góp khoa học

Luận án đã chế tạo thành công vật liệu hấp phụ biến tính từ bùn thải mỏ sắt, có khả năng loại bỏ hiệu quả các kim loại nặng trong nước thải. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc tận dụng chất thải từ hoạt động khai thác khoáng sản, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tiết kiệm chi phí xử lý.

3.2. Triển vọng ứng dụng

Giải pháp kết hợp vật liệu và thực vật được đề xuất trong luận án có tiềm năng ứng dụng rộng rãi tại các khu vực khai thác khoáng sản ở Việt Nam và các quốc gia khác. Với tính hiệu quả, chi phí thấp và thân thiện với môi trường, giải pháp này có thể trở thành công nghệ tiêu chuẩn trong xử lý nước thải khai khoáng.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Khu mỏ Pb-Zn thuộc phạm vi tinh Bắc Kạn chiếm tới 80% trữ lượng Pb-Zn trong cả nước, trong đó mỏ chì, kẽm Chợ Đồn là một trong những tụ khoáng chì, kẽm lớn của nước ta đã và đang được khai thác đem lại hiệu quả kinh tẾ cao. Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị mà nguồn khoáng sản đem lại là vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản gây ra. Một trong những quan ngại lớn nhất về môi trường tại khu mỏ chì, kẽm Chợ Đồn là ô nhiễm môi trường nước. Các kim loại nặng thải ra trong quá trình khai thác và chế biến khoáng sản xâm nhập vào môi trường nước mặt, nước ngầm gây ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.

Nghiên cứu môi trường nước tại khu vực mỏ chì, kẽm Chợ Đồn cho thấy có hiện tượng ô nhiễm kim loại nặng trong nước. Như vậy, khu mỏ chì, kẽm Chợ Đồn được lựa chọn để nghiên cứu chi tiết nhằm đề xuất và thử nghiệm giải pháp xử lý nước thải dựa trên các tiêu chí: tính đại diện cho mỏ Pb-Zn tại tỉnh Bắc Kạn, môi trường nước bị ô nhiễm và ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Vấn đề được đặt ra chính là nghiên cứu, xây dựng và áp dụng công nghệ đáp ứng các mục tiêu: (1) xử lý hiệu quả ô nhiễm môi trường; (2) giảm chi phí xử lý 6 nhiễm; (3) thân thiện với môi trường. Hiện nay, có rất nhiều công nghệ được nghiên cứu và triển khai rộng rãi nhằm xử lý kim loại nặng trong nước như: kết tủa, trao đồi ion, điện phân và sinh học.

Công nghệ hấp phụ được coi là một giải pháp có hiệu quả và thân thiện với môi trường trong việc xử lý kim loại nặng. Một sỐ nguyên liệu tự nhiên đã được nghiên cứu cho xử lý nước thải, bao gồm bentonit, bùn thải, điatomit và đá ong. Sử dụng thực vật để xử lý ô nhiễm và hệ thống bãi lọc trồng cây cũng được nghiên cứu và đánh giá là công nghệ có hiệu quả về chỉ phí xử lý và thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, hầu hết các loài thực vật có thé chống chịu và thích nghỉ tốt với nồng độ trung bình của các kim loại trong nước.

Trong khi đó, vật liệu hấp phụ có khả năng xử lý nước có hàm lượng kim loại nặng cao. Do đó, sự kết hợp giữa vật liệu hấp phụ và thực vật có thể là giải pháp khả thi trong xử lý nước thải bị ô nhiễm kim loại nặng với tải lượng đầu vào khác nhau. Các nghiên cứu về sự kết hợp của cả hai là vật liệu hấp phụ và thực vật trên thế giới còn hạn chế, với Việt Nam đây là công nghệ mới và chưa được triên khai nghiên cứu. 1 Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp xử lý nước thải khai thác và chế biễn khoáng sản chì, kém tại tinh Bắc Kan” dé thực hiện nham cung cap cơ sở khoa hoc của việc kết hợp vật liệu và thực vật địa phương dé xử ly 6 nhiễm kim loại nặng trong nước.

Mục tiêu - Chế tạo được vật liệu dạng hạt hấp phụ biến tính từ bùn thải khu chế biến sắt; - Lựa chọn được thực vật địa phương có khả năng xử lý tốt KLN trong nước; - Xây dựng được giải pháp sử dụng kết hợp vật liệu và thực vật địa phương để xử lý kim loại nặng trong nước; - Áp dụng giải pháp nói trên quy mô pilot 5m”/ngày đêm tại khu chế biến Lũng Váng thuộc khu mỏ chì, kẽm Chợ Đồn, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Giải pháp kết hợp vật liệu và thực vật để xử lý nước thải khai thác và chế biến khoáng sản chì kẽm được đề xuất dựa trên cơ sở tận dụng bùn thải từ hoạt động chế biến khoáng sản và thực vật địa phương. Kết quả thí nghiệm và triển khai thử nghiệm thực tế giải pháp này tại Lũng Váng (Chợ Đồn, Bắc Kạn) cho thấy tính hiệu quả về xử lý và chi phí, thân thiện với môi trường. Nhu cầu ngày càng tăng cao của việc xử lý nước thải khai khoáng, nguồn cung cấp d6i dao bùn thải từ các mỏ chế biến sắt và sự phân bồ rộng rãi, tính thích nghi tốt với môi trường của cây Sậy là cơ sở cho thấy ứng dụng của giải pháp này vào thực tế Việt Nam có rất nhiều triển vọng.

Những đóng góp mới của đề tài - Đã chế tạo được vật liệu biến tính từ bùn thải chế biến sắt Bản Cuôn bằng phương pháp biến tính nhiệt và kết hợp thuỷ tinh lỏng. - Đã đánh giá được khả năng xử lý tốt các kim loại nặng (Mn, As, Cd, Pb, Zn) trong nước thải khu chế biến chì kẽm Lũng Vang (Chợ Đồn - Bắc Kạn) sử dụng mô hình kết hợp giữa vật liệu biến tính đã nêu và bãi lọc trồng cây (Say - Phragmiies)) dòng chảy ngầm. TONG QUAN VE VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Hiện trang khai thác và chế biến khoáng sản chi, kẽm 1.

Hiện trạng khai thác và chế bién chì, kẽm trên thế giới Trên thế giới, 80% các mỏ kẽm được khai thác ham lò, 8% được khai thác lộ thiên, còn lại là kết hợp giữa hai dạng trên. Các hình thức chế biến chì, kẽm trên thế giới hiện nay bao gồm: - Nung và thiêu kết: Trước khi thu hồi kẽm kim loại bằng phương pháp thủy luyện kim hoặc hỏa luyện kim, cần thiết phải tách bỏ lưu huỳnh ra khỏi tinh quặng bằng cách nung và thiêu kết. Theo phương pháp này, tỉnh quặng được nung nóng tới nhiệt độ trên 900°C, khi đó, sunfua kẽm (ZnS) chuyên hóa thành oxit kẽm (ZnO). Đồng thời, lưu huỳnh kết hợp với oxi tạo thành dioxit lưu huỳnh, sau đó chuyên hóa thành axit sulfuric, một sản phẩm phụ quan trọng có giá trị thương mại.

- Phương pháp thủy luyện kim: Trong giai đoạn ngâm chiết, oxit kẽm được chiết tách từ các sản phâm nung khác nhờ axit sulfuric. Lượng kẽm được hòa tan bằng axit sulfuric, tuy nhiên, dung dịch đã hòa tan còn chứa một lượng tạp chất cần phải loại bỏ nhằm đạt được sản phâm kẽm có chất lượng cao. Quá trình tinh chế được thực hiện bằng cách pha thêm một lượng bột kẽm vào trong dung dịch, khi đó các ion kim loại khác bi kết tủa. Sau đó, dung dịch này sẽ tham gia vào một quá trình điện phân với anot (cực dương) là hợp kim chì và các catot (cực âm) nhôm.

Dòng điện truyền qua chất điện phân nhờ việc tao ra sự chênh lệch điện áp 3,3V - 3,5V giữa anot và catot khiến cho kẽm bám vào các catot nhôm. Lượng kẽm kết tủa này được gỡ ra, sấy khô, nau luyện va đúc thành các thanh kẽm. Các thanh kẽm này có thể khác nhau về chủng loại: loại chất lượng cao có 99,95% kẽm và loại chất lượng đặc biệt cao có 99,99% kẽm. - Phương pháp hoa luyện kim: Phương pháp này tiêu thụ năng lượng cao nên khi giá nhiên liệu tăng, hiệu quả sẽ giảm.

Hiện nay, các lò nấu luyện áp dụng phương pháp này đang hoạt động tại Trung Quốc, An Độ, Nhật Bản va Ba Lan. Hiện trạng khai thác và chế biến chì, kẽm ở Việt Nam Khoáng sản chì, kẽm thuộc nhóm khoáng sản kim loại. Các mỏ chì, kẽm vùng Đông Bắc Bộ phân bố theo đứt gãy sâu phân đới, các đứt gãy chủ yếu có phương Tây Bắc - Đông Nam, đóng vai trò như những kênh dẫn quặng, tạo thành các mỏ, điểm quặng phân bố ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kan, Cao Bằng và Hà Giang [12]. Sự gia tăng nhu cầu nguyên liệu khoáng đối với Pb-Zn (đặc biệt là các nguyên tố có ích đi kèm trong tinh quặng chì, kẽm như Ag, Cd, In, Ge.) trong những năm gần đây là động lực thúc đây mạnh hoạt động khai thác các loại mỏ này.

Số lượng mỏ và điểm quặng được đưa vào khai thác ngày càng tăng. Trình độ chế biến khoáng sản ở nước ta hiện nay vẫn còn hạn chế, chưa thể tận thu các nguyên tô quý hiếm đi kèm. Ở các mỏ Pb-Zn, người ta mới tiễn hành thu hồi tinh quặng Pb và Zn (hàm lượng 55-60%), các kim loại khác như Fe, Mn, Cu, As, Cd, In, Ga, Sb. đều bị đưa vào bãi thải gây nguy cơ ô nhiễm KLN và các chất độc hại khác trong môi trường xung quanh.

Hiện trạng khai thác và chế bién chì, kẽm khu mỏ Chg Don tỉnh Bắc Kan 1. Khái quát khu mỏ chì, kém Chợ Đồn Khu mỏ Chợ Đồn cung cấp quặng chì, kẽm có chất lượng tốt nhất và trữ lượng lớn nhất nước ta, đã được tìm kiếm thăm dò và khai thác ở các mức độ khác nhau. Khu mỏ chì, kẽm Chợ Đồn gồm hai vùng là Nam Chợ Đồn và Bắc Chợ Đồn (Chợ Điền). Trong đó, khu vực Nam Chợ Đồn gồm 4 mỏ chính Nà Tùm, Pù Sáp, Ba Bỏ, Nà Bop và khu chế biến Lũng Vang thuộc thị tran Bang Lũng và xã Bang Lãng huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn với diện tích 67,95 ha.

Tổng tài nguyên của tụ khoáng Chợ Đồn là 2,374 triệu tấn chì, kẽm quặng sulfur với hàm lượng 9,61% Pb+Zn và 593.000 tan quặng oxit với hàm lượng 6,18% Pb+Zn. Địa hình: Khu vực Chợ Đồn thuộc kiểu địa hình núi cao trung bình và núi thấp. Nhìn chung, địa hình thấp dần về phía nam. Ở phía Đông có 2 dãy núi kéo dài gan theo phương bắc nam từ Băng Lũng qua Nà Khat và từ Ban Lắc đến Nà Ruông, ở phía Tây có hàng loạt đỉnh núi (Nà Quan, Nà Moon) có độ cao từ 300-657m.

Khí hậu: Khu vực mỏ chì, kẽm Chợ Đồn nằm trong vùng khí hậu miền núi đặc trưng. Được hình thành từ một nền nhiệt cao của đới chí tuyến và sự thay thế của các hoàn lưu lớn theo mùa, kêt hợp với điêu kiện địa hình nên có hai mùa chính trong năm. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mưa nhiều với tổng lượng mưa 100- 600mm/thang; nhiệt độ lớn nhất 31-36°C; độ am từ 76-88%. Mùa khô từ đầu tháng 10 cho đến hết tháng ba năm sau; lượng mưa chỉ trong khoảng 8-22mm/thang ; nhiệt độ trung bình khoảng 13-15°C, độ âm trung bình 30-45%.

Lượng mưa trung bình năm khoảng 1. Địa chất thủy van: Khu vực mỏ Chợ Đồn có hệ thống sông suối khá dày đặc nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn sông Cau, sông Năng, sông Pho Day, sông Bình Trung đặc điểm là sông đầu nguồn, lòng sông ngắn, dốc, thủy chế thất thường. Đặc điểm địa chất: Mỏ quặng chì, kẽm Chợ Đồn là một trong bốn vùng mỏ quặng nằm trong cau trúc uốn nếp Lô Gâm- Phú Ngữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Giải pháp xử lý nước thải khai thác chì kẽm tại Bắc Kạn" tập trung vào việc nghiên cứu và đề xuất các phương pháp hiệu quả để xử lý nước thải từ hoạt động khai thác chì kẽm, một vấn đề môi trường nghiêm trọng tại khu vực này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các tác động tiêu cực của nước thải đến môi trường và sức khỏe cộng đồng mà còn đưa ra các giải pháp công nghệ và quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà khoa học, nhà quản lý môi trường và những người quan tâm đến bảo vệ tài nguyên nước.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến chất lượng nước, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về chất lượng nước ngầm và các yếu tố ảnh hưởng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình cũng là một tài liệu đáng chú ý, tập trung vào đánh giá ô nhiễm nước mặt. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng (PAHs) trong trà cà phê tại Việt Nam mang đến góc nhìn về ô nhiễm hóa học và tác động đến sức khỏe con người.

Các tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên sâu mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề môi trường hiện nay.