CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH Mục tiêu nghiên cứu của chương này là giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quan nhất về xếp hạng tín dụng, tiếp cận một số cơ sở lý luận hiện đại về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp. Tham khảo và nghiên cứu một số hệ thống XHTD điển hình trên thế giới. Qua đó rút ra những kinh nghiệm, ghi nhận những thành tựu mà các tổ chức này đã đạt được. Tổng quan chung về xếp hạng tín dụng 1.
Khái niệm về xếp hạng tín dụng Định nghĩa theo tổ chức “United Credit – Education Services” thì xếp hạng tín dụng (XHTD) hay xếp hạng tín nhiệm (XHTN) là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện ý trả nợ (gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu. Hiện nay, trên thế giới có hai phương pháp xếp hạng tín dụng chính là mô hình toán học và phương pháp chuyên gia. Theo định nghĩa của Viện nghiên cứu Nomura (Nomura Research Institute): Xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả (gốc, lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó. Như vậy có thể định nghĩa, XHTD là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện chí trả nợ (gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vai trò của Xếp hạng tín dụng 1. Đối với các TCTD Hiện nay, hệ thống XHTD, đặc biệt là XHTD doanh nghiệp có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các TCTD trong công tác quản trị rủi ro. Một hệ thống XHTD hiệu quả sẽ kiểm soát được mức độ tín nhiệm khách hàng, đánh giá hiệu quả danh mục tín dụng, danh mục đầu tư thông qua việc giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh danh mục, áp dụng chính sách ưu tiên vào các nhóm khách hàng an toàn.
Vai trò của XHTD trong các TCTD lúc này chính là cơ sở để quản trị rủi ro tín dụng nhằm hạn chế và giới hạn rủi ro ở mức mục tiêu, nhằm đảm bảo ổn định tính thanh khoản và thích ứng với các tình huống xấu có thể xảy ra. Đồng thời, XHTD cũng hỗ trợ TCTD trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, tiến tới mục đích tối đa hóa lợi nhuận và bảo vệ sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiện tại, trong các ngân hàng Việt Nam, nhiều định chế tài chính vẫn áp dụng việc trích lập dự phòng theo "tuổi nợ". Tuy nhiên, khi TCTD có một hệ thống xếp hạng hiệu quả (hiện mới chỉ có ở một số ít các ngân hàng) sẽ hỗ trợ cho việc sử dụng phương pháp định tính để xác định mức độ rủi ro của các khoản tín dụng, từ đó trích lập dự phòng theo tỷ lệ phù hợp, gần hơn với thông lệ quốc tế (IAS 39).
Xác định tương đối chính xác tổn thất ước tính thì việc trích lập trở nên đơn giản, hiệu quả và chính xác hơn. Không chỉ giúp xây dựng chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo phương pháp định tính, công tác xếp hạng tín dụng còn là cơ sở để xây dựng chính sách tín dụng và chính sách khách hàng nhất quán, góp phần thực hiện nguyên tắc cho vay của các TCTD. Việc sàng lọc, phân loại khách hàng được tiến hành ngay từ khâu phê duyệt cấp tín dụng và thực hiện định kỳ thường xuyên trong suốt quá trình cho vay, tùy vào mỗi TCTD sẽ áp dụng những điều chỉnh về chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 sách lãi suất, chính sách tài sản đảm bảo hay các ưu tiên khác nhau cho mỗi nhóm khách hàng. Đối với các đối tượng khác Đối với nhà đầu tư: Xếp hạng tín nhiệm giúp cho nhà đầu tư có một công cụ để đánh giá rủi ro tín dụng, giảm thiểu chi phí thu thập, phân tích, giám sát khả năng trả nợ của các tổ chức phát hành trái phiếu, công cụ nợ.
Đồng thời, nhà đầu tư cũng có thể nhận được mức lãi suất cao hơn do giảm bớt được trung gian tài chính (ngân hàng) trong quá trình lưu thông tiền tệ. Đối với doanh nghiệp: Xếp hạng tín nhiệm giúp các công ty mở rộng thị trường vốn trong và ngoài nước, giảm bớt sự phụ thuộc vào các khoản vay ngân hàng. Xếp hạng tín nhiệm cũng giúp duy trì sự ổn định nguồn tài trợ cho công ty, các công ty được xếp hạng cao có thể duy trì được thị trường vốn, ngay cả khi thị trường vốn có những biến động bất lợi, nguồn tài trợ linh hoạt hơn. Đặc biệt đối với các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán khi được xếp hạng cao sẽ được nhiều nhà đầu tư quan tâm hơn.
Đối với chính phủ và thị trường tài chính: Xếp hạng tín nhiệm giúp thị trường tài chính minh bạch hơn, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế và tăng cường khả năng giám sát thị trường của chính phủ và NHNN. Hiện nay, hầu hết các thị trường chứng khoán trên thế giới đều tồn tại các tổ chức xếp hạng, một xu thế phù hợp và tất yếu. Không chỉ có các tổ chức tín dụng mà nhà nước, nhà phát hành hay các nhà đầu tư cũng đều rất quan tâm đến XHTD. XHTD sẽ nâng cao tính công khai, lành mạnh, vững chắc của thị trường vì các thông số đã được công khai để các thành phần tham gia thị trường hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn mục tiêu của mình.
Thấy được tầm quan trọng của XHTD mà kinh doanh thông tin tín nhiệm từ lâu đã không còn xa lạ trên thế giới, nhiều công ty XHTD đã ra đời và cũng bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam trong vài năm gần đây. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Dữ liệu cơ sở của XHTD theo Basel II (Internal Rating Based – IRB) Để chuẩn hóa hoạt động của hệ thống các ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế, các ngân hàng lớn trên thế giới (chủ yếu ở Châu Âu) đã thực hiện một số công cụ, trong đó có Hiệp ước Basel (còn gọi là Basel I). Tuy nhiên, với nhiều khủng hoảng xảy ra trên thị trường tài chính thế giới trong thời gian gần đây, đặc biệt là hàng loạt những rủi ro phát sinh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã khiến Chính phủ các quốc gia này phải xem xét lại vấn đề nhằm cải tiến Basel I (1988) thành một Hiệp ước Basel mới vào tháng 6/2004 với mục tiêu tăng cường các giải pháp kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng – còn gọi là Basel II, bao gồm các “tiêu chuẩn vốn quốc tế”.
Như vậy, theo yêu cầu của Basel II, các tổ chức tín dụng sẽ sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu của nội bộ để đánh giá vấn đề rủi ro tín dụng, từ đó xác định khả năng tổn thất tín dụng. Dữ liệu được phân thành 3 nhóm khái quát như sau: Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng. Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành. Những dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi.
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tính được xác xuất không trả được nợ của khách hàng. Đó có thể là mô hình tuyến tính, mô hình probit. và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp. Việc áp dụng phương pháp IRB sẽ xác định đúng thực tế mức độ rủi ro của từng trạng thái rủi ro gồm các khoản cho vay doanh nghiệp, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), cho vay bán lẻ, cho vay thế chấp bất động sản, chứng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 khoán hóa, góp vốn cổ phần và các trạng thái không cân bằng khác.
Hiện nay, các TCTD đều có hệ thống xếp hạng khách hàng và hệ thống này được sử dụng để làm căn cứ cho thẩm định tín dụng và quyết định cho vay. Khi xác định được tổn thất ước tính, đặc biệt là xác định được xác suất khả năng vỡ nợ (PD - Probability of Default) của khách hàng sẽ giúp TCTD nâng cao được chất lượng việc giám sát và tái xếp hạng khách hàng sau khi cho vay. Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức sau: EL = EAD x LGD x PD Trong đó: EL: Expected Loss - tổn thất có thể ước tính. PD: Probability of Default là xác suất khách hàng không trả được nợ.
LGD: Loss Given Default - tỷ trọng tổn thất ước tính, đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ, được tính theo công thức như sau: LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD EAD: Exposure at Default - Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ, được tính theo Basel II như sau: EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x HMTD chưa sử dụng bình quân Trong đó, LEQ - Loan Equivalent Exposure là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ. "LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân" chính là phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Thực tế, nếu chúng ta coi hạng khách hàng là một biến kết quả, thì các biến nguyên nhân để xác định được biến kết quả trên chính là các đánh giá về tình hình tài chính, tình hình phi tài chính của doanh nghiệp đi vay và được xác định theo phương pháp "liên tục" dựa trên các mô hình toán.