MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống nhân loại nói chung và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi đất nước nói riêng. Tuy nhiên sự gia tăng dân số cùng với sự phát triển của mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế đã tạo ra lượng chất thải rất lớn, gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Trong số nguồn thải gây ô nhiễm môi trường thì rác thải sinh hoạt là một trong những nguồn chính và có mặt ở hầu hết các địa phương bởi rác thải sinh hoạt là một bộ phận tất yếu, luôn đồng hành cùng với hoạt động tiêu dùng của các hộ gia đình.
Ở Việt Nam, quản lý rác thải sinh hoạt đã thu hút được sự quan tâm của mọi tầng lớp trong xã hội. Theo ước tính của (Bộ TN&MT, 2017) thì tổng lượng rác thải sinh họat năm 2015 trên cả nước là 23 triệu tấn và có chiều hướng tăng lên nhanh chóng do áp lực tăng dân số và đô thị hóa. Tình trạng rác thải sinh hoạt quá tải diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước, cả ở khu vực đô thị lẫn khu vực nông thôn. Tình trạng rác thải có mặt khắp mọi nơi ở các vùng nông thôn, từ các trục đường giao thông chính đến các đường làng, ngõ xóm, ngoài đồng ruộng, mương, máng, ao hồ,…đang là vấn đề nan giải, bức xúc mà chưa có giải pháp hữu hiệu để giải quyết triệt để.
Trước thực trạng đó Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách liên quan đến công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo chất lượng môi trường, trong đó xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là một phần rất quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước đã xác định. Quế Võ là huyện lớn của tỉnh Bắc Ninh với tổng dân số của huyện đạt gần 160.000 người vào năm 2016 (UBND huyện Quế Võ, 2017). Bên cạnh đó trên địa bàn huyện còn co 03 Khu công nghiệp tập trung, 02 cụm công nghiệp địa phương đang thu hút trên 17.000 lao động làm việc và cư trú trên địa bàn. Do vậy mặc dù kinh tế của huyện tăng trưởng khá cao, nhưng trong thời gian gần đây huyện Quế Võ đang phải đối mặt với lượng lớn rác thải sinh hoạt dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường có chiều hướng ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp và đã trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống sinh hoạt của người dân.
Dọc các tuyến đê sông Đuống, sông Cầu, đường quốc lộ 18, tỉnh lộ 279, liên xã, liên 1 thôn, liên xóm,.đâu đâu cũng bắt gặp tình trạng có vô số những đống rác thải đủ chủng loại do người dân đổ trực tiếp ra môi trường. Trong những năm gần đây huyện Quế Võ đã có nhiều giải pháp nhằm khắc phục tình trạng trên, xong thực tế ô nhiễm môi trường ở Quế Võ vẫn ngày càng gia tăng. Trong điều kiện ngân sách hạn chế, huyện đã chủ trương xã hội hóa nhằm huy động sự tham gia, đóng góp của chính quyền và người dân trong toàn huyện trong quản lý rác thải sinh hoạt, qua đó giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường,. Nhìn chung công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện đã được quan tâm và đạt được những kết quả ban đầu nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thu hút được sự tham gia tích cực của các tổ chức, cá nhân trong quản lý rác thải,.
Thực trạng công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện ra sao và làm thế nào để tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt, qua đó giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn huyện là vấn đề đã và đang được đặt ra với chính quyền và người dân trên địa bàn huyện. Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Giải pháp tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn giải pháp tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt. - Đánh giá thực trạng xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. - Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này được tiến hành nhằm trả lời các câu hỏi liên quan đến xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh: - Có những vấn đề lý luận nào liên quan đến xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt? - Thực tiễn xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam hiện nay như thế nào? - Thực trạng xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay như thế nào? - Các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở huyện Quế Võ là gì? - Những giải pháp nào nhằm tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt và vai trò của các bên liên quan, đối tượng cụ thể bao gồm các tổ chức, cá nhân; các chính sách pháp luật và định hướng liên quan đến xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Phạm vi nghiên cứu + Về nội dung: Nghiên cứu lý luận, thực trạng xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện trong thời gian tới. + Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu phạm vi huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. + Về thời gian: Số liệu được thu thập từ năm 2014 đến 2016. Đề tài được thực hiện từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Về lý luận Luận văn đã tập hợp, hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về 3 RTSH và xã hội hóa trong quản lý RTSH trên các khía cạnh: khái niệm rác thải sinh hoạt; Quản lý rác thải sinh hoạt; Khái niệm về xã hội hóa trong quản lý RTSH; Vai trò của xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt; Đặc điểm công tác quản lý RTSH; Nội dung tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt và các yếu tố ảnh hưởng tới xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt và vận dụng nghiên cứu tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 1. Về thực tiễn Luận văn đã trình bày với nhiều dẫn liệu và minh chứng về các nội dung giải pháp tăng cường xã hội hóa trong quản lý RTSH, về cơ sở thực tiễn tăng cường xã hội hóa trong quản lý RTSH ở một số địa phương của Việt Nam như: Kinh nghiệm tăng cường xã hội hóa trong quản lý RTSH, tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Thừa Thiên Huế, kinh nghiệm tăng cường xã hội hóa trong quản lý RTSH ở huyện Yên Định, Thanh Hóa và huyện Từ Liêm, Hà Nội; Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về tăng cường xã hội hóa trong quản lý RTSH cho huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Từ những nội dung đó, Luận văn phân tích thực trạng công tác tăng cường xã hội hóa trong quản lý RTSH trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh theo các mặt còn tồn tại hạn chế và nguyên nhân của công tác tăng cường xã hội hóa trong quản lý RTSH ở địa bàn nghiên cứu; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giải pháp tăng cường xã hội hóa trong quản lý RTSH trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
4 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA TRONG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT 2. Khái niệm và vai trò của xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt 2. Khái niệm về rác thải sinh hoạt Rác thải sinh hoạt là một bộ phận cấu thành của chất thải nói chung.
Theo điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 thì “Chất thải là vật chất ở dạng rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Còn theo Theo Trần Hiếu Nhuệ và cs. (2010) thì Chất thải là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồn), trong đó, quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống. Như vậy có thể thấy rằng chất thải có những tiêu chí cơ bản: Thứ nhất, chất thải là vật chất, có thể tồn tại dưới những dạng như rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác; những yếu tố phi vật chất không thể là chất thải.
Thứ hai, vật chất bị chủ sở hữu thải ra trong các hoạt động của mình, cả trường hợp chủ động và bị động sẽ trở thành chất thải. “Rác thải sinh hoạt (chất thải sinh hoạt) là những chất thải có liên quan đến các hoạt động sống hàng ngày của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại.