CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA LĨNH VỰC CUNG CẤP NƯỚC SẠCH Ở VÙNG NÔNG THÔN 1.1 KHÁI NIỆM VỀ XÃ HỘI HÓA Khái niệm về xã hội hóa có nhiều quan điểm khác nhau. Theo giáo trình Bộ môn Xã hội học trong quản lý (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) có viết: “Trước đây, khái niệm xã hội hóa được sử dụng gần như đồng nhất với khái niệm giáo dục. Ngày nay, xã hội hóa được hiểu theo hai nghĩa. Một là, xã hội hóa (xã hội) là sự tham gia rộng rãi của xã hội (cá nhân, nhóm người, tổ chức, cộng đồng.) vào một số hoạt động mà trước đó chỉ được một đơn vị, một bộ phận hay một ngành chức năng nhất định thực hiện.
Hai là, xã hội hoá cá nhân. Khái niệm này để chỉ quá trình chuyển biến từ con người sinh vật trở thành con người xã hội. Như vậy, khái niệm xã hội hóa được hiểu theo hai nghĩa, xã hội hóa về mặt xã hội và xã hội hóa về con người.Xã hội hóa về con người Một số định nghĩa cụ thể về xã hội hoá được chấp nhận rộng rãi trong xã hội học. Theo nhà xã hội học người Mỹ Darrick Horton và nhà xã hội học người Anh Stephen Hunt : Xã hội hóa là quá trình con người học tập và tiếp thu những qui phạm của cộng đồng mình để từ đó, “bản ngã” ra đời, khiến mình khác biệt với những cá nhân khác.
Robert Bierstedt nhà xã hội học người Mỹ : Xã hội hóa là quá trình biến đổi bản năng nguyên sơ thành bản tính con người và là quá trình họ trở thành một thành viên được chấp nhận trong xã hội của mình. 16 Như vậy xã hội hoá là quá trình mỗi người, từ khi lọt lòng tới lúc già yếu, thâu nhận những kiến thức, kĩ năng, địa vị, lề thói, qui tắc, giá trị. xã hội và hình thành nhân cách của mình. Xã hội hóa là một quá trình phức hợp.
Xã hội hóa không thể xảy ra một sớm một chiều. Xã hội không ngừng biến đổi chính vì thế, quá trình xã hội hóa cũng chẳng bao giờ ngừng nghỉ. Có vô số thuyết về xã hội hóa và mỗi thuyết đề ra một quá trình khác nhau. Có thuyết thiên về giải thích theo sinh lí học, có thuyết thiên về các tác nhân xã hội.
Tuy nhiên, các nhà khoa học gắn khái niệm xã hội hóa với sự phát triển nhân cách và học hỏi, tuân thủ các nguyên tắc xã hội của các cá thể. Để có thể thực hiện được quá trình xã hội hóa, con người phải thông qua hay sử dụng các đơn vị thực thi chức năng xã hội hóa. Các phương tiện thực hiện chức năng xã hội hóa gồm có: gia đình, các phương tiện thông tin đại chúng, trường học, các nhóm người cùng địa vị, cộng đồng. Quá trình thiết yếu để duy trì xã hội chính là quá trình xã hội hóa.
Nếu cá nhân không xã hội hóa, bản thân sẽ bị xã hội đào thải. Con người phải xã hội hóa vì con người khi sinh ra chưa mang bản tính con người, chưa mang tính chất xã hội. Xã hội hóa về mặt xã hội Định nghĩa về xã hội hóa sản xuất: Đề cập về xã hội hóa tư liệu sản xuất, trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1998 có nêu xã hội hoá là làm cho thành của chung xã hội (về tư liệu sản xuất, trang 1848). Định nghĩa xã hội hóa của K.Marx: Tư bản , quyển 1, phần VIII, “Tích luỹ tư bản”, Chương 32: “Ngay khi tiến trình biến đổi vừa đủ làm tan rã xã hội cũ từ trên xuống dưới, ngay khi người lao động bị biến thành vô sản, công cụ lao động của họ thành tư bản, ngay khi phương thức sản xuất tư bản tự đứng vững trên đôi chân của mình, thì sự tiến xa hơn nữa trong quá trình 17 xã hội hóa lao động, sự tiến xa hơn nữa trong quá trình biến đổi đất đai và các tư liệu sản xuất khác thành khai thác xã hội và do đó, là tư liệu sản xuất chung, cũng như sự tiến xa hơn nữa việc tước đoạt các chủ của cải tư nhân, mang một dạng mới.
Cái sẽ bị tước đoạt bây giờ không còn là người lao động tự làm cho mình, mà là nhà tư bản bóc lột nhiều người lao động. Tiến trình tước đoạt đạt được bằng tác động của các quy luật tự nội của chính sản xuất tư bản, bằng sự tập trung tư bản. Một nhà tư bản luôn luôn giết nhiều nhà tư bản. Cùng nhịp với quá trình tập trung, hay quá trình tước đoạt nhiều nhà tư bản bởi một số ít, dạng hợp tác của quá trình lao động, sự áp dụng kỹ thuật khoa học có ý thức, quá trình canh tác đất đai có phương pháp, quá trình biến đổi công cụ lao động thành công cụ lao động sử dụng chung, sự tiết kiệm mọi tư liệu sản xuất trong sử dụng như là tư liệu sản xuất của lao động tập thể, xã hội hóa, phát triển trên một tầm cỡ ngày càng rộng, sự ràng buộc mọi dân tộc vào mạng lưới thị trường toàn cầu, và theo đó, tính quốc tế của chế độ tư bản.” Từ “lao động xã hội hoá” trong đoạn trích trên, gồm “sự tiến xa hơn nữa của quá trình xã hội hoá lao động… thành khai thác xã hội, và do đó, là tư liệu sản xuất chung” và hai là, “sự tiết kiệm mọi tư liệu sản xuất trong sử dụng như là tư liệu sản xuất của lao động tập thể, xã hội hoá” được hiểu theo nghĩa là mặt biểu hiện của lao động tập thể, đã thành đơn vị đo đếm được, tập hợp được, phân phối được, trả lương hàng loạt được, trên bình diện toàn xã hội (hay toàn cầu), và vì thế có thể khai thác hay bóc lột được.
Tiến trình xã hội hóa lao động bao gồm sự biến dạng lao động đơn thuần thành lao động với tư cách tư liệu sản xuất chung, tập thể. Là quá trình biến đổi lao động cụ thể trở thành lao động trựu tượng .Vậy, “xã hội hoá lao động” gồm việc biến cá thể độc lập thành chỉ còn một mặt biểu hiện đơn thuần của con người toàn diện. Như vậy khái niệm “xã hội hoá” của K.Marx là đưa một cách có hệ thống mọi loại tư liệu sản xuất kinh doanh và sở hữu lên toàn xã hội. 18 Định nghĩa xã hội hóa theo quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam: Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần X của Đảng có nêu: “Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu.
Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu; Nhà nước chỉ thực hiện sự ưu đãi hoặc hỗ trợ phát triển đối với một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm; một số mục tiêu như xuất khẩu, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, khắc phục những rủi ro; một số địa bàn,các doanh nghiệp nhỏ và vừa.” và “Đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, phương pháp giáo dục theo hướng ‘chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, nâng cao chất lượng dạy và học.” 1 Xã hội hóa trong hai đoạn trích trên được hiểu (1)“xã hội hóa là cổ phần hoá” đối với sản xuất kinh doanh và sở hữu, và (2) “xã hội hoá là tư nhân hóa một phần” đối với tổ chức, quản lý và phương pháp giáo dục. Định nghĩa xã hội hóa theo quan điểm của giáo trình Bộ môn Xã hội học trong quản lý (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh): là sự tham gia rộng rãi của xã hội (bao gồm cá nhân, nhóm người, tổ chức, cộng đồng.) vào một hoạt động nhất định, mang lại lợi ích thiết thực cho cá nhân, tổ chức, cộng đồng. mà trước đó chỉ được một đơn vị, bộ phận hay một ngành chức năng thực hiện. Khái niệm xã hội hóa biểu hiện ở 3 nội dung chính sau: Một là, có sự tham gia rộng rãi của cá nhân, nhóm người, tổ chức, cộng đồng.
Hai là, trước đó đã có một số ít người, bộ phận, ngành chức năng thực hiện. Ba là, mục tiêu đạt được của việc thực hiện xã hội hoá. Tóm lại khái niệm xã hội hóa được định nghĩa trên nhiều quan điểm khác nhau. Trong phạm vi của đề tài này Xã hội hóa được đề cập như là sự huy động toàn xã hội tham gia vào lĩnh vực cung cấp nước sạch nhằm mang lại lợi ích cho toàn xã hội.
1 Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của ĐCSVN mục IV.4, “Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh”]. XÃ HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP NƯỚC SẠCH Ở VÙNG NÔNG THÔN 1.1 Định nghĩa Đó là sự huy động của toàn xã hội vào lĩnh vực sản xuất và cung cấp nước sạch nhằm mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Xã hội hóa trong lĩnh vực cấp nước biểu hiện ở ba mặt: Một là, sự huy động của toàn xã hội: cá nhân, cộng đồng, các thành phần kinh tế, nhà nước, các tổ chức nước ngoài. Hai là, lĩnh vực này trước đây chỉ do thành phần kinh tế nhà nước đảm nhiệm.
Ba là, xã hội hóa mang lại lợi ích cho toàn xã hội được thể hiện sau đây.2 Lợi ích của xã hội hóa lĩnh vực cung cấp nước sạch 1.1 Thu hút thêm nguồn lực tài chính để phát triển nhanh hệ thống cấp nước – bộ phận của kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực hiện được một cách nhanh chóng Thông thường việc đầu tư phát triển hạ tầng nói chung, hệ thống cấp nước nói riêng dựa vào ngân sách nhà nước. Nhưng vì ngân sách nhà nước còn eo hẹp nên phải tranh thủ từ nhiều nguồn khác như : nguồn vốn vay, vốn tự có của doanh nghiệp, nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA. Nguồn vốn ODA hiện nay trên dưới 1 tỷ USD mỗi năm và để sử dụng nguồn vốn đó ngân sách phải có khoản vốn đối ứng vào khoản 10%-30%, chủ yếu dùng vào việc giải phóng mặt bằng và chi bộ máy quản lý dự án. Vốn viện trợ ODA là nguồn lực tài chính rất quý báu, tuy nhiên các dự án loại này phải qua giai đoạn thương lượng nhiều năm, bên cho vay thường đưa ra những yêu cầu nhất định mà bên vay phải thực hiện.
Ngoài ra ODA chủ yếu cung cấp máy móc, thiết bị ( thường là giá cao), có rủi rỏ vể tỷ giá hối đoái nên suất đầu tư tương đối cao.