Nghiên cứu giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho các tuyến đê biển Quảng Ninh

Luận văn thạc sĩ phân tích giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho tuyến đê biển Quảng Ninh, đảm bảo an toàn và phát triển bền vững.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2013

114
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh

Biến đổi khí hậunước biển dâng là những thách thức lớn đối với tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt là hệ thống đê biển. Tỉnh này có 250km bờ biển và 160km đê biển, chịu ảnh hưởng nặng nề từ bão và áp thấp nhiệt đới. Biến đổi khí hậu tại Quảng Ninh đã làm gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan, gây thiệt hại lớn về kinh tế và đời sống người dân. Nghiên cứu này nhằm đề xuất các giải pháp ứng phó hiệu quả để bảo vệ hệ thống đê biển trước những tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậunước biển dâng.

1.1. Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng

Biến đổi khí hậu đã làm thay đổi đáng kể khí hậu tại Quảng Ninh, với nhiệt độ tăng và lượng mưa biến động mạnh. Nước biển dâng đe dọa trực tiếp đến các khu vực ven biển, làm tăng nguy cơ ngập lụt và xói mòn bờ biển. Các kịch bản dự báo cho thấy, nếu mực nước biển dâng 1m, nhiều khu vực của tỉnh sẽ bị ngập, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nghiên cứu và triển khai các biện pháp bảo vệ đê biển.

II. Thực trạng hệ thống đê biển Quảng Ninh

Hệ thống đê biển Quảng Ninh hiện nay gồm 30 tuyến đê, chủ yếu là đê cấp IV do địa phương quản lý. Mặc dù đã được đầu tư tu bổ hàng năm, hệ thống đê vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong bối cảnh biến đổi khí hậunước biển dâng. Các tuyến đê thường xuyên bị hư hỏng do tác động của bão, sóng lớn và xói mòn. Đặc biệt, các khu vực như Móng Cái, Hải Hà, và Hạ Long chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Nghiên cứu này đánh giá hiện trạng và chỉ ra những hạn chế cần khắc phục để nâng cao hiệu quả bảo vệ.

2.1. Hiện trạng cơ sở hạ tầng đê biển

Các tuyến đê tại Quảng Ninh được phân bố rộng khắp, từ Móng Cái đến Cô Tô. Tuy nhiên, nhiều tuyến đê có cấu trúc yếu, thiếu các biện pháp gia cố hiện đại. Các vấn đề như lát đá không đúng kỹ thuật, vải lọc bị hư hỏng, và thiếu hệ thống thoát nước hiệu quả đã làm giảm khả năng chống chịu của đê. Điều này đòi hỏi các giải pháp công trìnhphi công trình để cải thiện chất lượng và độ bền của hệ thống đê.

III. Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp ứng phó bao gồm cả công trình và phi công trình. Các giải pháp công trình tập trung vào việc nâng cấp cấu trúc đê, sử dụng vật liệu bền vững và thiết kế phù hợp với điều kiện địa hình. Các giải pháp phi công trình bao gồm nâng cao nhận thức cộng đồng, quản lý rủi ro thiên tai, và trồng rừng ngập mặn để giảm thiểu tác động của sóng và xói mòn. Các giải pháp này không chỉ bảo vệ đê biển mà còn góp phần bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững.

3.1. Giải pháp công trình

Các giải pháp công trình bao gồm việc sử dụng các cấu kiện bê tông lắp ghép, gia cố mái đê bằng đá hộc, và xây dựng hệ thống thoát nước hiệu quả. Các công nghệ tiên tiến như thảm bê tông liên kết bằng dây cáp và ống địa kỹ thuật cũng được đề xuất để tăng cường độ bền và khả năng chống chịu của đê. Các giải pháp này được thiết kế dựa trên kinh nghiệm quốc tế và điều kiện địa phương của Quảng Ninh.

3.2. Giải pháp phi công trình

Các giải pháp phi công trình tập trung vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng về biến đổi khí hậuphòng chống lụt bão. Chương trình giáo dục và đào tạo được đề xuất để trang bị kiến thức và kỹ năng cho người dân. Ngoài ra, việc trồng rừng ngập mặn được coi là một giải pháp hiệu quả để giảm thiểu tác động của sóng và bảo vệ bờ biển. Các giải pháp này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, cộng đồng và các tổ chức liên quan.

IV. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc ứng phó với biến đổi khí hậunước biển dâng đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa các giải pháp công trìnhphi công trình. Các giải pháp đề xuất không chỉ giúp bảo vệ hệ thống đê biển Quảng Ninh mà còn góp phần phát triển bền vững và bảo vệ môi trường biển. Để đạt được hiệu quả cao, cần có sự đầu tư mạnh mẽ từ chính quyền và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Nghiên cứu cũng đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo để hoàn thiện các giải pháp và ứng dụng vào thực tiễn.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các giải pháp nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho các tuyến đê biển quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU TỈNH QUẢNG NINH 1. Sơ bộ về tỉnh Quảng Ninh 1.1 Đặc điểm tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu Ðông Bắc Việt Nam, nằm giữa các kinh độ đông 106º26’-108º31’3’’ và các vĩ độ bắc 20º40’-21º40’, khoảng dài nhất từ đông sang tây là 195km, từ bắc xuống nam là 102km. Phía bắc giáp Quảng Tây (Trung Quốc) với đường biên giới dài 132,8km và tỉnh Lạng Sơn.

Phía Tây giáp Bắc Giang, Hải Dương, Phía Nam giáp Hải Phòng. Phía Đông Nam giáp biển Ðông với 250km bờ biển. Là một tỉnh miền núi duyên hải, Quảng Ninh có 80% diện tích đất đai là đồi núi.000 hòn đảo nổi trên mặt biển phần lớn đều là núi, với tổng diện tích là 620km². Hình 1-1: Tỉnh Quảng Ninh B 0 5 1.2 Đặc điểm địa hình Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái.

Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên. Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ.

Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hưng (đảo Hà Nam), đông Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái.

Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông, nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh. Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng có địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ.

Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú. Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho 6 công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng.) Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m.

Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng. Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn. Vùng bờ Quảng Ninh có địa hình đa dạng, phức tạp, bao gồm cả địa hình đồi núi ven biển, địa hình đồng bằng ven biển, biển ven bờ và hải đảo. Khu vực phía Bắc Quảng Ninh địa hình chủ yếu là đồi núi phức tạp và bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đâm ra sát biển, tạo ra các eo, vịnh nhỏ ven bờ.

Còn ở phía Nam (là tỉnh Hải Phòng) là vùng hạ lưu của hai sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình nên địa hình thấp và bị chia cắt bởi nhiều cửa sông đổ ra biển, trong đó có loại hình cửa sông hình phễu. Trong vùng bờ Quảng Ninh – Hải Phòng có hơn 2.700 hòn đảo nằm cách biệt nhau, nhưng trong một “quần thể” kéo dài từ Hải Phòng đến đảo Trần giáp biên giới Trung Quốc, trong đó có những đảo nằm tách biệt, xa đất liền hàng chục hải lý. Đây là nét đặc thù của vùng, có giá trị cảnh quan đặc biệt, độc nhất vô nhị ở Việt Nam và trên thế giới. Điều kiện địa hình trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế xã hội và xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, nhưng lại tạo ra tiềm năng bảo tồn và phát triển kinh tế biển nói chung và du lịch biển-đảo nói riêng trong vùng.3 Đặc điểm địa chất Quảng Ninh nằm trong đới kiến trúc duyên hải và Cô Tô.

Thực chất, đó là một phức nếp lồi, một bộ phận của hệ uốn nếp Việt Bắc. Đới phức nếp lồi Quảng Ninh chiếm toàn bộ phần rìa Tây Bắc vịnh Bắc Bộ. - Những thành phần chính của phức nếp lồi Quảng Ninh như sau: 7 + Nếp lồi Tấn Mài dạng địa lũy nằm ở Bắc - Tây Bắc, ngăn cách An Châu bằng đứt gãy sâu lớn. Nếp lồi phát triển ở phần lớn các huyện thị miềng Đông tỉnh Quảng Ninh: Móng Cái, Quảng Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên và đảo Cái Chiên, đảo Vĩnh Thực.

+ Vùng trồi Cô Tô giữa biển Đông cũng là một phần của phức nếp lồi. Đây là một sụt võng sâu kiểu sụt võng nội địa mang Caledoni muộn của Đông Bắc Bắc bộ. + Tầng cấu trúc Đê vôn trên bình đồ có dạng “vành trăng khuyết” bao gồm các đảo tuyến khơi vịnh Hạ Long và Bái Tử Long kéo dài đến Đồ Sơn. Trầm tích Đê vôn ở Quảng Ninh đặc trưng cho thành hệ molat của giai đoạn sinh núi thuộc địa máng Caledoni muộn.

+Tầng cấu trúc Carbon hạ - Pecmi hạ gồm thành hệ Carbonat nằm không chỉnh hợp lên các thành tạo Đevôn. Tầng cấu trúc này chủ yếu phân bố ở quần đảo Cát Bà. Tại Quảng Ninh chúng tạo thành một khu tầng gồm đá vôi - silic bột kết và thấu kính than tuổi Pecmi muộn chỉ dày 250m. Quan sát thấy chúng ở đảo Đầu Bê, Hàng Trai và một số khối nhỏ dọc theo đường ô tô Hồng Gai - Đông Triều - Bắc Ninh.

+ Nằm lên các tầng cấu trúc Paleozoi là trầm tích Mezozoi (T2 - Y) tạo thành một võng, chồng dạng địa hào hẹp kéo dài từ Vĩnh Yên - Đông Triều - Hòn Gai - Cẩm Phả. + Thành hệ chứa than chủ yếu hướng lục địa với bề dày 2.000 m, có chứa hàng chục vỉa than công nghiệp tạo thành bể than Quảng Ninh tuổi J3n-r. + Hố trũng Tiên Yên nằm trong sụt võng Hạ Long có dạng hình chữ nhật, phương Đông Bắc từ Cửa Ông, Tiên Yên, Móng Cái. - Hố trũng Kainozoi Hoành Bồ, Hồng Gai được hình thành vào thời kỳ kiến tạo mới, được lấp đầy trầm tích sông hồ Neogen dày đến 450m.

Thành phần chính của trầm tích là sét bột kết, thấu kính cuội kết, có các lớp than nâu, sét tẩm dầu. Thời kỳ hình thành các lớp sét có giá trị công nghiệp ở Hoành Bồ và Giếng Đáy. Quá trình vận động kiến tạo cổ sinh, trung sinh và tân sinh với các loại nham thạch như sa thạch, diệp thạch, sa diệp thạch và đá vôi. 8 Tuy nhiên, phần lớn đất đai tỉnh Quảng Ninh là nằm trong vùng bị lún xuống được tạo nên từ thời Trias thượng thuộc vùng trầm tích lớn ở phía tả ngạn sông Hồng, dưới lòng đất có nhiều vỉa than anthracities và các khoáng sản khác.4 Đặc điểm khí tượng – khí hậu Trong vùng có 16 trạm khí tượng, phần lớn là các trạm đo mưa, có 6 trạm đo cả 5 yếu tố X, W, V, E, T là Móng Cái, Tiên Yên, Đình Lập, Cửa Ông, Hòn Gai và Uông Bí.

Hầu hết các trạm được xây dựng từ năm 1960 đến nay, một số trạm được xây dựng từ thời Pháp thuộc, nhưng đo không liên tục, số liệu gián đoạn và thất lạc nhiều. Tài liệu từ sau khi hòa bình lập lại có đồng bộ về thời gian, phương pháp, do đó chất lượng đảm bảo cho việc tính toán. Vùng nghiên cứu nằm trong phân khu Đông Bắc Bắc Bộ, có nền chung khí hậu là khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh ít mưa và mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều. a) Nhiệt độ Vùng nghiên cứu có nhiệt độ thấp hơn so với nhiều nơi ở miền Bắc nước ta, nhưng do nằm sát biển nên nhiệt độ có được điều hoà hơn, không có nhiều đột biến quá cao.

Nhiệt độ cao nhất đã quan trắc được tại Móng Cái là 39,10C ngày P P 5/11/1935 và thấp nhất là 1,10C ngày 15/1/1963. Đình lập 37,20c ngày 13/7/1983. P P P P Tiên yên 37,80c ngày 15/7/1957, Uông bí 37,90c ngày 18/6/1983, Cửa Ông 38,80c P P P P P P ngày 13/7/1983. Nhiệt độ trung bình năm tại trạm Hồng Gai là 22,90C, nhiệt độ P P trung bình tháng cao nhất từ 28 - 28,50C (tháng VI, VII ), thấp nhất từ 16-17,50C ( P P P P tháng XII, I).

Nhiệt độ trung bình tháng tại các trạm chính được tổng hợp ở bảng 1. Thời kỳ nắng nhiều là từ mùa hè đến đầu mùa thu (tháng 5-10), mỗi tháng có khoảng 170 - 230 giờ nắng (bình quân 5,5 - 7,5 giờ/ngày). Thời kỳ ít nắng nhất là khi có tiết trời đầy mây, âm u và mưa phùn (tháng 2-3), mỗi tháng chỉ có 40-60 giờ nắng, (bình quân 1,7 - 2,0 giờ/ngày). So với các khu vực khác, nền nhiệt của vùng bờ Quảng Ninh thấp, nhiệt độ trung bình năm là 23 – 240C.

Biên độ nhiệt trong năm giao động khá cao, khoảng 12 P P - 130C. Về mùa hè, nhiệt độ trung bình 28 - 290C, cao nhất là tháng 7, nhiệt độ P P P P 9 thường trên 300C, có ngày lên tới 400C. Về mùa đông nhiệt độ trung bình xuống P P P P dưới 200C, thấp nhất là tháng 1, chỉ khoảng 13 - 150C. P P P P Chế độ ẩm: Do chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên độ ẩm tương đối trong vùng khá cao, trung bình trên 80%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho đê biển Quảng Ninh" trình bày các biện pháp cần thiết để bảo vệ đê biển Quảng Ninh trước những tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Nội dung tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các công nghệ hiện đại và các giải pháp bền vững nhằm giảm thiểu rủi ro cho khu vực ven biển. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường, từ đó nâng cao nhận thức về các vấn đề môi trường hiện nay.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Đánh giá tài nguyên nước đảo Trần tỉnh Quảng Ninh, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về tài nguyên nước trong khu vực. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu biến động lớp phủ thực vật ngập mặn thành phố Quy Nhơn sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của đô thị hóa đến hệ sinh thái ven biển. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu tác động xâm nhập mặn khu vực Sài Gòn - Đồng Nai cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về các vấn đề xâm nhập mặn và giải pháp ứng phó. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các thách thức và giải pháp trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay.