Chương 1. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU TỈNH QUẢNG NINH 1. Sơ bộ về tỉnh Quảng Ninh 1.1 Đặc điểm tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu Ðông Bắc Việt Nam, nằm giữa các kinh độ đông 106º26’-108º31’3’’ và các vĩ độ bắc 20º40’-21º40’, khoảng dài nhất từ đông sang tây là 195km, từ bắc xuống nam là 102km. Phía bắc giáp Quảng Tây (Trung Quốc) với đường biên giới dài 132,8km và tỉnh Lạng Sơn.
Phía Tây giáp Bắc Giang, Hải Dương, Phía Nam giáp Hải Phòng. Phía Đông Nam giáp biển Ðông với 250km bờ biển. Là một tỉnh miền núi duyên hải, Quảng Ninh có 80% diện tích đất đai là đồi núi.000 hòn đảo nổi trên mặt biển phần lớn đều là núi, với tổng diện tích là 620km². Hình 1-1: Tỉnh Quảng Ninh B 0 5 1.2 Đặc điểm địa hình Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái.
Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên. Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ.
Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hưng (đảo Hà Nam), đông Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái.
Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông, nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh. Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng có địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ.
Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú. Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho 6 công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng.) Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m.
Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng. Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn. Vùng bờ Quảng Ninh có địa hình đa dạng, phức tạp, bao gồm cả địa hình đồi núi ven biển, địa hình đồng bằng ven biển, biển ven bờ và hải đảo. Khu vực phía Bắc Quảng Ninh địa hình chủ yếu là đồi núi phức tạp và bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đâm ra sát biển, tạo ra các eo, vịnh nhỏ ven bờ.
Còn ở phía Nam (là tỉnh Hải Phòng) là vùng hạ lưu của hai sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình nên địa hình thấp và bị chia cắt bởi nhiều cửa sông đổ ra biển, trong đó có loại hình cửa sông hình phễu. Trong vùng bờ Quảng Ninh – Hải Phòng có hơn 2.700 hòn đảo nằm cách biệt nhau, nhưng trong một “quần thể” kéo dài từ Hải Phòng đến đảo Trần giáp biên giới Trung Quốc, trong đó có những đảo nằm tách biệt, xa đất liền hàng chục hải lý. Đây là nét đặc thù của vùng, có giá trị cảnh quan đặc biệt, độc nhất vô nhị ở Việt Nam và trên thế giới. Điều kiện địa hình trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế xã hội và xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, nhưng lại tạo ra tiềm năng bảo tồn và phát triển kinh tế biển nói chung và du lịch biển-đảo nói riêng trong vùng.3 Đặc điểm địa chất Quảng Ninh nằm trong đới kiến trúc duyên hải và Cô Tô.
Thực chất, đó là một phức nếp lồi, một bộ phận của hệ uốn nếp Việt Bắc. Đới phức nếp lồi Quảng Ninh chiếm toàn bộ phần rìa Tây Bắc vịnh Bắc Bộ. - Những thành phần chính của phức nếp lồi Quảng Ninh như sau: 7 + Nếp lồi Tấn Mài dạng địa lũy nằm ở Bắc - Tây Bắc, ngăn cách An Châu bằng đứt gãy sâu lớn. Nếp lồi phát triển ở phần lớn các huyện thị miềng Đông tỉnh Quảng Ninh: Móng Cái, Quảng Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên và đảo Cái Chiên, đảo Vĩnh Thực.
+ Vùng trồi Cô Tô giữa biển Đông cũng là một phần của phức nếp lồi. Đây là một sụt võng sâu kiểu sụt võng nội địa mang Caledoni muộn của Đông Bắc Bắc bộ. + Tầng cấu trúc Đê vôn trên bình đồ có dạng “vành trăng khuyết” bao gồm các đảo tuyến khơi vịnh Hạ Long và Bái Tử Long kéo dài đến Đồ Sơn. Trầm tích Đê vôn ở Quảng Ninh đặc trưng cho thành hệ molat của giai đoạn sinh núi thuộc địa máng Caledoni muộn.
+Tầng cấu trúc Carbon hạ - Pecmi hạ gồm thành hệ Carbonat nằm không chỉnh hợp lên các thành tạo Đevôn. Tầng cấu trúc này chủ yếu phân bố ở quần đảo Cát Bà. Tại Quảng Ninh chúng tạo thành một khu tầng gồm đá vôi - silic bột kết và thấu kính than tuổi Pecmi muộn chỉ dày 250m. Quan sát thấy chúng ở đảo Đầu Bê, Hàng Trai và một số khối nhỏ dọc theo đường ô tô Hồng Gai - Đông Triều - Bắc Ninh.
+ Nằm lên các tầng cấu trúc Paleozoi là trầm tích Mezozoi (T2 - Y) tạo thành một võng, chồng dạng địa hào hẹp kéo dài từ Vĩnh Yên - Đông Triều - Hòn Gai - Cẩm Phả. + Thành hệ chứa than chủ yếu hướng lục địa với bề dày 2.000 m, có chứa hàng chục vỉa than công nghiệp tạo thành bể than Quảng Ninh tuổi J3n-r. + Hố trũng Tiên Yên nằm trong sụt võng Hạ Long có dạng hình chữ nhật, phương Đông Bắc từ Cửa Ông, Tiên Yên, Móng Cái. - Hố trũng Kainozoi Hoành Bồ, Hồng Gai được hình thành vào thời kỳ kiến tạo mới, được lấp đầy trầm tích sông hồ Neogen dày đến 450m.
Thành phần chính của trầm tích là sét bột kết, thấu kính cuội kết, có các lớp than nâu, sét tẩm dầu. Thời kỳ hình thành các lớp sét có giá trị công nghiệp ở Hoành Bồ và Giếng Đáy. Quá trình vận động kiến tạo cổ sinh, trung sinh và tân sinh với các loại nham thạch như sa thạch, diệp thạch, sa diệp thạch và đá vôi. 8 Tuy nhiên, phần lớn đất đai tỉnh Quảng Ninh là nằm trong vùng bị lún xuống được tạo nên từ thời Trias thượng thuộc vùng trầm tích lớn ở phía tả ngạn sông Hồng, dưới lòng đất có nhiều vỉa than anthracities và các khoáng sản khác.4 Đặc điểm khí tượng – khí hậu Trong vùng có 16 trạm khí tượng, phần lớn là các trạm đo mưa, có 6 trạm đo cả 5 yếu tố X, W, V, E, T là Móng Cái, Tiên Yên, Đình Lập, Cửa Ông, Hòn Gai và Uông Bí.
Hầu hết các trạm được xây dựng từ năm 1960 đến nay, một số trạm được xây dựng từ thời Pháp thuộc, nhưng đo không liên tục, số liệu gián đoạn và thất lạc nhiều. Tài liệu từ sau khi hòa bình lập lại có đồng bộ về thời gian, phương pháp, do đó chất lượng đảm bảo cho việc tính toán. Vùng nghiên cứu nằm trong phân khu Đông Bắc Bắc Bộ, có nền chung khí hậu là khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh ít mưa và mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều. a) Nhiệt độ Vùng nghiên cứu có nhiệt độ thấp hơn so với nhiều nơi ở miền Bắc nước ta, nhưng do nằm sát biển nên nhiệt độ có được điều hoà hơn, không có nhiều đột biến quá cao.
Nhiệt độ cao nhất đã quan trắc được tại Móng Cái là 39,10C ngày P P 5/11/1935 và thấp nhất là 1,10C ngày 15/1/1963. Đình lập 37,20c ngày 13/7/1983. P P P P Tiên yên 37,80c ngày 15/7/1957, Uông bí 37,90c ngày 18/6/1983, Cửa Ông 38,80c P P P P P P ngày 13/7/1983. Nhiệt độ trung bình năm tại trạm Hồng Gai là 22,90C, nhiệt độ P P trung bình tháng cao nhất từ 28 - 28,50C (tháng VI, VII ), thấp nhất từ 16-17,50C ( P P P P tháng XII, I).
Nhiệt độ trung bình tháng tại các trạm chính được tổng hợp ở bảng 1. Thời kỳ nắng nhiều là từ mùa hè đến đầu mùa thu (tháng 5-10), mỗi tháng có khoảng 170 - 230 giờ nắng (bình quân 5,5 - 7,5 giờ/ngày). Thời kỳ ít nắng nhất là khi có tiết trời đầy mây, âm u và mưa phùn (tháng 2-3), mỗi tháng chỉ có 40-60 giờ nắng, (bình quân 1,7 - 2,0 giờ/ngày). So với các khu vực khác, nền nhiệt của vùng bờ Quảng Ninh thấp, nhiệt độ trung bình năm là 23 – 240C.
Biên độ nhiệt trong năm giao động khá cao, khoảng 12 P P - 130C. Về mùa hè, nhiệt độ trung bình 28 - 290C, cao nhất là tháng 7, nhiệt độ P P P P 9 thường trên 300C, có ngày lên tới 400C. Về mùa đông nhiệt độ trung bình xuống P P P P dưới 200C, thấp nhất là tháng 1, chỉ khoảng 13 - 150C. P P P P Chế độ ẩm: Do chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên độ ẩm tương đối trong vùng khá cao, trung bình trên 80%.