Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn lưu động và nguồn vốn lưu động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn lưu động Theo điều 4 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu lực từ ngày 01/07/2005 đã ghi nhận: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Trong đó cũng quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời ”. Như vậy, DN là một tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện một hoặc một số khâu của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ với mục tiêu chủ yếu là sinh lời. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài tài sản cố định các doanh nghiệp cần phải có tài sản lưu động. Tài sản lưu động trong doanh nghiệp bao gồm 2 bộ phận: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
- Tài sản lưu động sản xuất bao gồm những vật tư dự trữ sản xuất để bảo đảm cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu … và những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… SV: Lê Trung Anh Lớp: CQ50/11.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 4 Học viện Tài Chính - Tài sản lưu động lưu thông là những tài sản lưu động nằm trong quá trình lưu thông của doanh nghiệp như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, các khoản phải thu, vốn bằng tiền. Trong quá trình kinh doanh, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận động, chuyển hóa, thay thế đổi chỗ cho nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra nhịp nhàng, liên tục. Để hình thành các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các tài sản đó, số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Như vậy: “Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp”.
Nói cách khác, VLĐ là biểu hiện bằng tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp. Đặc điểm vốn lưu động Là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động, do đó, đặc điểm của vốn lưu động bị chi phối bởi đặc điểm của tài sản lưu động: * Vốn lưu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trình chu chuyển vốn: Trong doanh nghiệp sản xuất vốn lưu động được chuyển hóa và vận động thông qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1: , VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện. Vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên vận động chuyển hóa lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau, được thể hiện qua sơ đồ sau: + Đối với doanh nghiệp sản xuất: T- H…sx…H’- T’ (T’ > T) + Đối với doanh nghiệp thương mại: T- H- T’ + Đối với các tổ chức tín dụng trung gian: T- T’ SV: Lê Trung Anh Lớp: CQ50/11.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 5 Học viện Tài Chính Cụ thể đối với doanh nghiệp sản xuất, vốn lưu động từ vận động từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển thành vật tư, hàng hóa dự trữ sản xuất, tiếp đến trở thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm, và cuối cùng khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm lại trở về hình thái ban đầu là vốn bằng tiền. Giai đoạn 2: giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại toàn bộ khi thu được tiền bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
Giai đoạn 3: VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh. Quá trình vận động chuyển hóa của VLĐ diễn ra thường xuyên, liên tục và lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh, tạo thành vòng tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động.1: Quá trình luân chuyển của vốn lưu động Vật tư dự trữ Tiền mặt mua thu tiền bán thu sản hàng tiền ngay xuất Khoản phải thu Sản phẩm mới SV: Lê Trung Anh Lớp: CQ50/11.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 6 Học viện Tài Chính Nói chung, sự vận động của vốn lưu động trong doanh nghiệp sản xuất được mô tả như sau: T-H…SX…H’-T’. Trên thực tế, chu kì trên không diễn ra tuần tự mà đan xen vào nhau, các chu kì sản xuất kinh doanh được lặp đi lặp lại, vốn lưu động được tuần hoàn và luân chuyển liên tục. Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động càng lớn thì hiệu quả sử dụng của vốn lưu động càng cao.
- Giá trị của VLĐ được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại khi DN thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. - VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh. Thành phần vốn lưu động của Doanh nghiệp Để tìm hiểu về thành phần VLĐ, ta sẽ tiến hành nghiên cứu thông qua các cách phân loại VLĐ của Doanh nghiệp. Thông thường có 1 số cách phân loại sau: 1.
Dựa vào hình thái biểu hiện của vốn lưu động Nếu dựa trên tiêu thức hình thái biểu hiện thì VLĐ trong doanh nghiệp có thể được chia thành hai loại: * Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: Vốn bằng tiền bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng và tiền đang chuyển. Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định. Các khoản phải thu (vốn trong thanh toán) bao gồm: Chủ yếu là các khoản phải thu của khách hàng (thể hiện ở số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau).
Ngoài ra, với một số trường hợp mua sắm vật tư khan SV: Lê Trung Anh Lớp: CQ50/11.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 7 Học viện Tài Chính hiếm, doanh nghiệp còn có thể phải ứng trước tiền mua hàng cho người cung ứng, từ đó hình thành khoản tạm ứng. * Vốn về hàng tồn kho: Trong doanh nghiệp sản xuất, vốn vật tư hàng hóa bao gồm: Vốn về vật tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm. Các loại này được gọi chung là vốn về hàng tồn kho. Một cách chi tiết hơn, ta có thể thấy vốn về hàng tồn kho của doanh nghiệp bao gồm: Vốn về nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại nguyên vật liệu chính dự trữ cho sản xuất, khi tham gia vào sản xuất, chúng hợp thành thực thể của sản phẩm.
Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất, giúp cho việc hình thành sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chính của sản phẩm, chỉ làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình SXKD thực hiện thuận lợi. Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động SXKD. Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa chữa các tài sản cố định. Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị các loại vật liệu bao bì dùng để đóng gói sản phẩm trong qua trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị các loại công cụ dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định dùng cho hoạt động kinh doanh. Vốn sản phẩm đang chế: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí SXKD đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm). Vốn về chi phí trả trước: Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng cho nhiều chu kỳ SXKD nên chưa thể tính hết vào giá SV: Lê Trung Anh Lớp: CQ50/11.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 8 Học viện Tài Chính thành sản phẩm trong kỳ này, mà được tính dần vào giá thành sản phẩm các kỳ tiếp theo như chi phí cải tiến kỹ thuật, chi phí nghiên cứu thí nghiệm… Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho. Trong các doanh nghiệp thương mại, vốn về hàng tồn kho chủ yếu là giá trị các loại hàng hóa dự trữ.
Việc phân loại VLĐ theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán, tính thanh khoản của các tài sản đầu tư trong DN. Từ đó có thể tìm các biện pháp phát huy chức năng các thành phần vốn và biết được kết cấu VLĐ theo hình thái biểu hiện để định hướng điều chỉnh sao cho hợp lý và có hiệu quả, tránh được những rủi ro về thanh toán. Dựa vào vai trò của vốn lưu động trong quá trình SXKD. Theo cách phân loại này, VLĐ có thể chia ra làm 3 loại : - Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất gồm các khoản: + Vốn nguyên, vật liệu chính + Vốn vật liệu phụ + Vốn nhiên liệu + Vốn phụ tùng thay thế + Vốn vật liệu đóng gói +Vốn công cụ dụng cụ - Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất gồm: + Vốn sản xuất đang chế tạo + Vốn bán thành phẩm tự chế + Vốn về chi phí chờ kết chuyển - Vốn lưu động nằm trong khâu lưu thông gồm: SV: Lê Trung Anh Lớp: CQ50/11.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.