CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN 1. Cơ sở lý thuyết về quản lý thuế 1. Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế 1.
Khái niệm về quản lý thuế Có nhiều quan điểm về quản lý thuế song đều đi đến một thống nhất rằng quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành được thực hiện bởi những chủ thể mang quyền lực nhất định, được nhà nước giao phó nhằm hướng tới mục đích đã đặt ra trong quá trình quản lý hành chính và quản lý kinh tế của đất nước. Có thể tiếp cận khái niệm quản lý thuế dưới hai góc độ sau: Theo nghĩa rộng: quản lý thuế là quản nhà nước trong lĩnh vực thuế, là quá trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật thuế, tổ chức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thực hiện các luật thuế; thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế. Theo nghĩa hẹp: quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về lĩnh vực thuế, là việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu - nộp thuế theo một trình tự nhất định, là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác của chính đối tượng nộp thuế, sự hỗ trợ của cơ quan thuế cũng như các cơ quan nhà nước có liên quan Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 tiếp cận vấn đề quản lý thuế theo nghĩa hẹp. Luật không đưa ra khái niệm cụ thể về quản lý thuế mà chỉ nêu ra các nội dung trong quản lý thuế tại Điều 3 của Luật.
Theo đó, nội dung quản lý thuế bao gồm: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế. Từ điều luật này có thể thấy, pháp luật quản lý thuế bao gồm các quy định mang tính thủ tục được xây dựng để thực hiện các chính sách thuế của nhà nước. 10 Đối tượng tác động của quản lý thuế bao gồm: người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Trong đó, mỗi đối tượng giữ một vai trò và vị trí khác nhau nhằm đảm bảo cho các luật thuế được thi hành nghiêm chỉnh và thuận lợi, cụ thể.
Đặc điểm của quản lý thuế Thứ nhất, quản lý thuế là một hệ thống thống nhất giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với nhau, giữa xây dựng chính sách thuế với tổ chức hành thu Thứ hai, quản lý thuế là quản lý bằng pháp luật và các biện pháp nghiệp vụ, biện pháp hành chính khác, trong đó pháp luật là công cụ chủ yếu, là chuẩn mực bắt buộc đối với mọi đối tượng thuộc sự điều chỉnh của luật quản lý thuế thuế, dù là người thu thuế hay người nộp thuế Thứ ba, hiệu quả của công tác quản lý thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : ý thức chấp hành pháp luật thuế của người dân, trình độ năng lực của cán bộ, công chức QLT, cơ sở vật chất của ngành thuế, hệ thống thể chế quản lý kinh tế - xã hội (quản lý đất đai, quản lý đăng ký kinh doanh, chế độ kế toán. Yêu cầu của quản lý thuế - Thứ nhất: Hoạch định mục tiêu - Thứ hai: Phân cấp quản lý đối với đối tượng nộp thuế - Thứ ba: Xây dựng, ban hành và thực hiện các quy trình quản lý thu đối với các đối tượng nộp thuế - Thứ tư : xây dựng cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 1. Lý thuyết về hiệu quả quản lý thuế Tính hiệu quả quản lý thuế được thể hiện trên hai góc độ: Hiệu quả về hành thu và hiệu quả về kinh tế - xã hội. - Hiệu quả về hành thu thể hiện tiết kiệm chi phí tổ chức quản lý thu và hiệu suất thu cao, hạn chế tối đa các hành vi trốn thuế và tránh thuế.
Hiệu quả quản lý thuế được thể hiện thông qua chi phí hành thu thấp. Đứng trên góc độ của người khai thuế thì chi phí này bao gồm chi phí thuê kế toán, luật sư tư vấn thuế cũng như thời gian của người nộp thuế dùng để kê khai thuế và ghi chép sổ 11 sách. Đứng trên góc độ của cơ quan quản lý thuế đó là tất cả các chi phí để tổ chức thu thuế và quản lý thuế. Phương pháp hành thu được xem là hiệu quả hiện nay được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng đó là để người nộp thuế tự khai, tự tính và nộp thuế.
- Hiệu quả về kinh tế - xã hội thể hiện tiết kiệm được chi phí tuân thủ của người nộp thuế tức là tiết kiệm được thời gian, công sức, các chi phí khác co việc thực hiện các thủ tục về thuế đồng thời phát huy vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế, khuyến khích phát triển kinh tế theo định hướng của Nhà nước, thúc đẩy có hiệu quả các nguồn lực.[18] Qui trình quản lý thuế có hiệu quả khi có sự tham gia của hai nhóm đối tượng đó là người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế. Do vậy, để công tác quản lý thuế có hiệu quả cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế đồng thời phải tuyên truyền hỗ trợ cho đối tượng nộp thuế ý thức được nghĩa vụ nộp thuế của mình. Một số quan điểm đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thuế Để huy động một bộ phận GDP vào NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cần thiết, Nhà nước cần ban hành các chính sách thuế (Hệ thống chính sách thuế). Nhưng muốn đưa các chính sách thuế vào đời sống xã hội phải thông qua hệ thống quản lý thuế để tổ chức thực thi các chính sách thuế.
Hệ thống quản lý thuế bao gồm: Cơ cấu tổ chức bộ máy,các quy trình quản lý về nghiệp vụ và lực lượng đội ngũ cán bộ công chức. Giữa hai nội dung hệ thống chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế luôn có mối quan hệ hữu cơ, hệ thống chính sách là cơ sở là tiền đề để hình thành hệ thống quản lý thuế và ngược lại hệ thống quản lý thuế là nơi tổ chức thực hiện các chính sách thuế là nơi đưa chính sách thuế đi vào cuộc sống và từ đó phản ảnh những chính sách không phù hợp cần phải sửa đổi, phải bãi bỏ hay xây dựng ban hành chính sách mới. Có hệ thống chính sách thuế tốt nhưng không có bộ máy quản lý tốt thì hiệu quả quản lý cũng không cao và ngược lại nếu có tổ chức bộ máy tốt nhưng không có hệ thông chính sách thuế hiệu quả, bao quát hết 12 nguồn thu thì cũng không đảm bảo được yêu cầu đặt ra. Trong thực tế người ta thường gọi hệ thống chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế là Hệ thống thuế hay gọi tắt là công tác quản lý thuế [18].
Để đánh giá một hệ thống thuế được coi là tích cực, hiệu quả hay không phải là một công việc dễ dàng. Tuy nhiên, nếu xem xét các yêu cầu chung của sự phát triển nền kinh tế quốc dân, cũng như đòi hỏi một nền xã hội dân chủ trong việc xác lập một hệ thống thuế tích cực, phù hợp thì tất yếu phải đặt ra những tiêu thức cần thiết cho việc xây dựng một hệ thống thuế hiệu quả. Adam Smit (1723-1790) – người đặt nền móng cho khoa học tài chính trong tác phẩm nền tảng của mình “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của nhân loại” đã vạch ra 4 nguyên tắc cơ bản xây dựng hệ thống thuế hợp lý đó là: + Thuế phải được huy động phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư. + Mức thuế và thời hạn thanh toán cần phải được xác định chính xác + Thời gian thu thuế cần phải được quy định thuận lợi đối với người nộp.
+ Các chi phí để tổ chức thu nộp thuế cần phải thấp nhất. Trên cơ sở các nguyên tắc kể trên, các nhà kinh tế học hiện đại đã hoàn chỉnh, bổ sung nó và khái quát hóa thành những tiêu chuẩn đánh giá một hệ thống thuế tích cực, hiệu quả. Từ đó các tiêu chuẩn đó trở thành kim chỉ nam trong việc xây dựng hệ thống thuế các quốc gia có nền kinh tế theo định hướng thị trường đó là: Hệ thống thuế phải đảm bảo công bằng, minh bạch, thuận lợi và hiệu quả [18]. - Tính công bằng (về mặt xã hội tính công bằng còn mang ý nghĩa về đạo đức-pháp luật) : Tính công bằng là đòi hỏi khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử.
Trong một xã hội dân chủ, tính công bằng cần phải được thực hiện trước hết đối với sự phân chia gánh nặng của thuế khóa. Có công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế mới động viên các thành viên hăng hái hoạt động sản xuất kinh doanh, giữ vững được thể chế chính trị. Tuy nhiên cho đến nay, tiêu thức để đánh giá tính công bằng của một hệ thống chính sách thuế cũng đang có nhiều ý kiến khác nhau. Các nhà kinh tế cho rằng tính công bằng của thuế 13 khóa phải dựa trên nguyên tắc công bằng theo chiều ngang và nguyên tắc công bằng theo chiều dọc [18].
Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang: Nếu các cá nhân về mọi mặt đều như nhau thì được đối xử ngang nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Tuy nhiên trong thực tế nguyên tắc này tỏ ra khó áp dụng bởi vì nó không chỉ rõ tiêu thức nào xác định hai cá nhân như nhau, mặt khác nó cũng không nói rõ việc đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế là như thế nào. Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều dọc, nếu người có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn người khác. Trong thực tế để áp dụng nguyên tắc này cần xác định rõ hai vấn đề: tiêu thức xác định khả năng và mức độ nộp thuế cao hơn.
- Tính chính xác (hay còn gọi là tính minh bạch): Một hệ thống thuế chính xác thể hiện sự rõ ràng và minh bạch, trước hết phải chỉ rõ ai chịu thuế, mức thuế phải nộp và thời hạn nộp thuế.