CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH: 1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển: Kể từ khi loài người xuất hiện, các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và hàng hóa xuất hiện (cũng tức là xuất hiện khái niệm Tài sản), thì nhu cầu cho thuê tài sản phục vụ sản xuất và sinh hoạt của con người cũng hình thành theo quy luật cung cầu. Một số cá nhân (hay tổ chức) có tài sản nhàn rỗi có thể cho thuê để kiếm thêm thu nhập từ việc nhận được “phí” cho thuê tài sản của mình. Tài sản đươc đưa ra giao dịch rất đa dạng: công cụ sản xuất, nhà cửa ruộng đất, phương tiện phục vụ sinh hoạt. Cách đây hơn 2000 năm, người Iran cổ đã có các giao dịch cho thuê tài sản và nó được thể hiện trên các tài liệu có tính pháp lý.
Nhưng văn bản quan trọng nhất, khá chặt chẽ và đầy đủ được coi là Bộ luật Thuê tài sản đầu tiên của thế giới là Bộ quy tắc giao dịch thuê tài sản của vua xứ Babilon – vua Hammurabi (1700 năm TCN). Trong giao dịch cho thuê tài sản, Bên cho thuê tiến hành chuyển giao quyền sử dụng tài sản của họ cho Bên thuê trong một thời gian đã được thoả thuận giữa hai bên để thu về tiền cho thuê. Trong suốt thời hạn hợp đồng cho thuê tài sản, quyền sở hữu tài sản không được chuyển giao từ Bên cho thuê sang Bên thuê nhưng Bên thuê phải chịu trách nhiệm giữ gìn tài sản mà họ đã thuê. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã chứng kiến sự bùng nổ về sản xuất và kinh tế hàng hóa.
Sản xuất và tiêu dùng không chỉ rầm rộ phát triển theo bề rộng, mà còn mạnh mẽ đi vào chiều sâu theo nghĩa chất lượng và chuyên ngành. Điều này dẫn đến một thực tế là không có một tổ chức hành chính hoặc kinh tế nào có thể (và cũng không cần thiết) phải sở hữu toàn bộ sản phẩm xã hội. Họ sẽ sử dụng một số tài sản cụ thể của người khác để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh, giải trí của mình dưới dạng thuê mướn.2 Khái niệm và đặc điểm hoạt động cho thuê tài chính 1.1 Khái niệm hoạt động cho thuê tài chinh * Theo Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC), một giao dịch thuê tài sản thỏa mãn một trong bốn tiêu chuẩn dưới đây đều được gọi là thuê tài chính: - Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi hết hợp đồng. - Hợp đồng có quy định quyền mặc cả mua bán tài sản tại thời điểm chấm dứt hợp đồng.
- Thời hạn hợp đồng bằng phần lớn thời gian hoạt động hữu dụng của tài sản. Trên cơ sở phân loại của IASC, các nước có những quy định cụ thể trong pháp luật về cho thuê tài chính dựa trên điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của mỗi nước, có thể nhấn mạnh tiêu chuẩn này hay giảm bớt tiêu chuẩn khác nhưng về cơ bản không có điều gì mâu thuẩn với các tiêu chuẩn chung. * Ở Việt Nam, theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của Chính phủ về “ Tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính” thì: “Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê.
Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.” Điểm khác biệt lớn giữa quan điểm về cho thuê tài chính ở Việt Nam so với trên thế giới là đối tượng cho thuê là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác mà không áp dụng cho thuê đối với bất động sản.2 Định nghĩa thị trường cho thuê tài chính 1 0 Thị trường cho thuê tài chính là nơi diễn ra các hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị (tài sản thuê tài chính). Đối tượng tham gia vào thị trường này bao gồm: công ty cho thuê tài chính, các nhà cung cấp thiết bị, công ty đi thuê tài chính.
Thị trường cho thuê tài chính cung cấp dịch vụ tín dụng trung và dài hạn cho các doanh nghiệp do đó nó là một bộ phận của thị trường vốn. Các chủ thể tham gia thị trường cho thuê tài chính: Cho thuê tài chính, hiểu theo nghĩa rộng, là một quan hệ ba bên giữa bên cho thuê, bên thuê và nhà cung cấp, bao gồm hai hợp đồng có mối liên hệ mật thiết với nhau: hợp đồng cung cấp tài sản và hợp đồng thuê tài chính. Bên cho thuê tham gia vào cả hai hợp đồng này. Trong khi đó theo nghĩa hẹp, giao dịch cho thuê tài chính được hiểu là một hợp đồng thuê giữa bên cho thuê và bên thuê.
Bên thuê có vai trò cấp tín dụng trong khi nhà cung cấp mới là bên cung cấp tài sản thật sự. Như vậy về cơ bản, các chủ thể chính tham gia thị trường cho thuê tài chính bao gồm: các công ty cho thuê tài chính, nhà cung cấp tài sản và công ty có nhu cầu thuê tài chính. Giao dịch trên thị trường cho thuê tài chính thường trải qua các giai đoạn sau: (1) bên thuê lựa chọn tài sản và nhà cung cấp tài sản. Thông thường bên thuê sẽ đàm phán trực tiếp với nhà cung cấp tài sản các điều khoản của hợp đồng cung cấp tài sản như đặc điểm kỹ thuật, giá cả, bảo hành, giao hàng, v.
trừ điều khoản thanh toán tiền mua tài sản. Nghĩa vụ thanh toán là của bên cho thuê theo đúng vai trò tài trợ vốn của mình nên điều khoản thanh toán thường được bên cho thuê đàm phán với nhà cung cấp sau đó, (2) bên thuê giao kết hợp đồng thuê tài chính với bên cho thuê (thường là các định chế tài chính), đối tượng của hợp đồng này chính là đối tượng của hợp đồng cung cấp tài sản giữa nhà cung cấp và bên cho thuê. Bên thuê nhận chuyển giao toàn bộ các quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản từ bên cho thuê trừ quyền sở hữu trên danh nghĩa và có nghĩa vụ trả tiền thuê, (3) bên cho thuê xác lập quyền sở hữu tài sản bằng việc giao kết hợp đồng cung cấp tài sản với nhà cung cấp theo những điều khoản mà bên thuê đã liên hệ đàm phán với nhà cung cấp từ trước đó, (4) nhà cung cấp giao tài sản trực tiếp tới bên thuê. Bên cho thuê không thực hiện từ việc đàm phán về chất lượng, chủng loại của hợp đồng cho đến việc chuyển giao tài sản trên thực tế.
Các vấn đề về thực trạng hoạt động của tài sản cũng như việc bảo hành và bảo dưỡng tài sản là vấn đề giữa nhà cung cấp và bên đi thuê. Chính điều này là cơ sở khiến bên cho thuê thoát khỏi trách nhiệm về rủi ro của tài sản thuê.3 Đặc điểm của cho thuê tài chính Thuê tài chính là một dạng cấp tín dụng trung và dài hạn Bản chất tín dụng của giao dịch cho thuê tài chính được thể hiện ở việc bên cho thuê chấp nhận chuyển giao toàn bộ lợi ích và rủi ro hay quyền và nghĩa vụ (ngoại trừ quyền sở hữu tài sản trên danh nghĩa) cho bên thuê. Cho thuê tài chính là một phương thức cấp tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê tài sản (cũng vì thế nên nó có tên gọi cho thuê vốn). Để xếp một giao dịch vào hoạt động tín dụng thì giao dịch đó cần phải đảm bảo 3 nguyên tắc đó là tính kỳ hạn, tính hoàn trả và tính lãi suất.
Giao dịch cho thuê tài chính thỏa mãn cả 3 nguyên tắc trên đồng thời do thời hạn thuê dài (thời hạn trên 60% thời gian hữu dụng của sản phẩm thuê tài chính) nên nó được xem là một một hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Trong giao dịch cho thuê tài chính, bên thuê sử dụng tài sản thuê trong một thời gian nhất định và phải thanh toán tiền thuê định kỳ cho bên cho thuê cho đến khi hết hạn hợp đồng. Khoản tiền thuê bao gồm hai phần: phần vốn gốc và lãi. Vì vậy, có thể thấy đây là bản chất của một giao dịch tín dụng.
Bên cạnh đó, đối với hợp đồng cho thuê thanh toán một phần sau khi chấm dứt hợp đồng thuê, tiền lãi được thanh toán đầy đủ trong quá trình sử dụng vốn, nhưng vốn gốc chưa hoàn trả đầy đủ. Trường hợp này có ba các giải quyết và được quy định trong hợp đồng. Người thuê đồng ý mua tài sản: phần vốn gốc đã được hoàn trả dưới dạng tiền thanh toán mua tài sản. Người mua muốn thuê tiếp tài sản: phần vốn gốc được hoàn trả dưới dạng thanh toán tiền thuê trong thời gian hợp đồng cho thuê được gia hạn.
Người đi thuê không muốn thuê tiếp tài sản: phần vốn gốc được hoàn trả dưới dạng hiện vật, tức là tài sản thuê mua. Trong bất kỳ một trường hợp nào đi nữa thì nguyên tắc hoàn trả của tín dụng luôn luôn được bảo đảm; tiền thuê và giá trị tài sản thường lớn hơn giá trị tài sản ban đầu, đây chính là sự trao đổi tài sản không ngang giá - bản chất của một quan hệ tín dụng. Đó gọi là tiền lãi mà người cho vay được hưởng ngoài giá trị ban đầu của tín dụng.