CHƯƠNG 1 DOANH NGHIỆP XÂY LẮP VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI S ư• PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIÊP • XÂY LẮP 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP XẨY LẮP 1. Khái niệm về doanh nghiệp xây lắp 1. Khái quát về hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Sản phẩm của đầu tư xây dựng cơ bản là những công trình như nhà máy, công trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển.
thường gắn liền với đất đai, kết tinh từ các thành quả khoa học - công nghệ. Đó là kết quả của nhiều ngành, nhiều tổ chức KTXH như chủ đầu tư, doanh nghiệp xây lắp, các cơ quan tư vấn thiết kế, các công ty cung ứng vật tư thiết bị, các tổ chức dịch vụ ngân hàng, tài chính, các cơ quan quản lí của Nhà nước. Điều đó cho ta thấy muốn thực hiện một dự án thành công phải có sự phối hợp liên ngành, liên cơ quan và luôn nằm dưới sự quản lí của Nhà nước. Các công trình đầu tư xây dựng thường có vốn lớn.
Vì vậy, chiến lược đầu tư xây dựng luôn là trọng điểm của Nhà nước. Chỉ riêng phần xây lắp những công trình bình thường, nhỏ cũng vài trăm triệu, lớn tới hàng chục tỷ đồng. Sản phẩm xây dựng là những công trình gắn liền với địa điểm nhất định (bất động sản), do đó chịu tác động của nhiều yếu tố địa phương. Địa điểm sản xuất luôn thay đổi, lực lượng sản xuất luôn phải di động, cơ cấu tổ chức xây lắp luôn phải thay đổi cho phù hợp với công trình làm tăng những chi phí gián tiếp.
Thời gian xây dựng một công trình tương đối dài và ở ngoài trời nên chịu tác động của thời tiết, thị trường nên quá trình sản xuất khá rõ rệt. Việc tô chức thực hiện xây dựng đòi hỏi phải luôn năng động, chính xác và nhạy cảm, đôi khi còn có một phần may rủi. -5- Sản xuất xây dựng cần nhiều lao động sống, mà lao động lại là nguồn tài nguyên quý hiếm nên bài toán sử dụng lao động luôn luôn đặt ra với mọi phương án thi công. Công nghệ xây dựng biến đổi chậm, thị trường cạnh tranh khá tự do nên rất gay gắt.
Khái niệm về doanh nghiệp xây lắp Có nhiều tiêu chí để phân loại các doanh nghiệp trong nền kinh tế, trong đó, dựa trên cơ sở phân loại theo ngành kinh tế, các doanh nghiệp được đưa vào các ngành: tài chính, y tế, nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, xây lắp,. Tuy nhiên, trong xu thế đa dạng hoá ngành nghề hiện nay, nhiều doanh nghiệp tham gia vào các ngành khác nhau để hạn chế rủi ro. Song, ngành xây dựng có đặc thù là đòi hỏi vốn đầu tư lớn và dài hạn, yêu cầu phải có trình độ chuyên môn, thủ tục cấp phép phức tạp, và rủi ro ngành cao. Do đó, một doanh nghiệp khi quyết định tham gia vào lĩnh vực này thường tập trung tỷ trọng lớn nguồn vốn của doanh nghiệp đó vào các hoạt động xây dựng.
Chính vì vậy, có thế đưa một doanh nghiệp vào ngành xây dựng khi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đó nằm trong các nhóm sau: - Công nghiệp xây dựng; - Công nghiệp cơ khí, chế tạo thiết bị phục vụ xây dựng; - Công nghiệp xi măng và vật liệu xây dụng; - Đầu tư phát triển đô thị và kinh doanh bất động sản. Doanh nghiệp xây lắp (DNXL) là một tổ chức kinh doanh, có tư cách pháp nhân mà ngành nghề kinh doanh liên quan đến lĩnh vực xây dựng. Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp * Đặc điểm nồi bật của doanh nghiệp xây lắp là nhạy cảm với diễn biến của nền kinh tế vĩ mô -6- Khi nền kinh tế tăng trưởng, các hoạt động xây lắp được mở rộng, doanh thu và lợi nhuận của các công ty trong ngành sẽ tăng cao. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, các công trình xây lắp sẽ bị trì trệ vì người dân không còn bỏ nhiều tiền ra đế xây dựng nhà cửa, Chính phủ không mở rộng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng như cầu cống, sân bay, bến cảng, trường học, bệnh viện.
điều này làm cho doanh số, lợi nhuận của các doanh nghiệp xây lắp sụt giảm nhanh chóng. * Hoạt động của các doanh nghiệp xây lắp chịu ảnh hưởng lớn của hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành Hệ thống chính sách và pháp luật hiện hành có tác động đến rất nhiều chủ thể và hoạt động có liên quan đến ngành xây dựng, đặc biệt là công tác quy hoạch đô thị, giải phóng mặt bằng, thủ tục cấp phép xây dựng,. Do hệ thống Pháp luật Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện nên sự thay đổi về chính sách luôn có thể xảy ra, thiếu sự ổn định cần thiết đối với doanh nghiệp mới thực hiện hình thức chuyến đối sở hữu. Ngoài ra, các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách về xây dựng cơ bản, phát triển các khu đô thị, cơ sở hạ tầng,.
còn chồng chéo, thiếu tính ổn định và nhất quán, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc hoạch định chiến lược, chính sách kinh doanh. * Doanh nghiệp xây lắp thường có quy mô sản xuất và đầu tư lớn Do những dự án sản xuất kinh doanh của DNXL thường là dự án lớn, thời gian dài, nên nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp trong ngành rất lớn. Đặc điểm này giải thích cho việc các DNXL thường có tỷ lệ vốn nợ/vốn tụ có cao hơn các ngành khác. Tuy nhiên trên thực tế, chỉ có các DNXL thuộc sở hữu của Nhà nước như các Tổng công ty mới có quy mô vốn, lực lượng lao động, tài sản lớn và đất đai nhiều.
Còn với các DNXL thuộc các thành phần kinh tế khác như công ty cổ phần (CTCP), công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), doanh nghiệp tư nhân (DNTN),. có quy mô nhỏ, tỉ lệ công ty cổ phần có mức vốn -7- điều lệ dưới 10 tỉ đồng chiếm hơn 59%, trên 20 tỉ đồng chỉ chiếm 16,38%. Với mức vốn như vậy, các doanh nghiệp này có năng lực cạnh tranh kém, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, công nghệ sản xuất lạc hậu; thiếu cán bộ khoa học có trình độ cao và công nhân có tay nghề, hoạt động thiếu tính chuyên nghiệp; công tác nghiên cứu thị trường, thực hiện xúc tiến thương mại, quảng bá, khuếch trương sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp chưa được chú trọng đầu tư đúng mức. Do đó, các doanh nghiệp này gặp nhiều khó khăn trong việc vay vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
* Rủi ro ngành kinh doanh đối với các doanh nghiệp xây lắp rất cao Trong hoạt động xây dựng cơ bản, thời gian thi công của các công trình thường kéo dài, việc nghiệm thu, bàn giao được thực hiện từng phần; ở Việt Nam hiện nay việc giải ngân vốn thường chậm, quá trình hoàn tất hồ sơ thi công cũng như thống nhất phê duyệt quyết toán giữa chủ đầu tư và nhà thầu thường mất rất nhiều thời gian. Bên cạnh đó, các chủ đầu tư là các bộ ngành và địa phương thường bố trí nhiều dự án, công trình xây lắp không tương xứng với nguồn vốn đầu tư cho nên thi công kéo dài, khối lượng đầu tư dở dang nhiều. Điều đó càng làm chậm thêm tiến độ giải ngân và thanh quyết toán của các công trình và làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính của các DNXL , đặc biệt là tình hình công nợ phải thu, phải trả và dòng tiền hoạt động. Ngoài ra, giá cả các yếu tố đầu vào của ngành xây dựng đang ở mức cao và còn có xu hướng tăng làm ảnh hưởng đến chi phí của doanh nghiệp.
Một thực tế trong ngành xây dựng là tình trạng khó thu hồi nợ sau khi hoàn thành công trình nên doanh nghiệp có thể sẽ gặp những khó khăn trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính đến hạn. Với đặc thù ngành xây dựng là nợ đọng dài ngày, chậm thanh quyết toán vốn xây dựng cơ bản - số tỷ lệ các khoản phải thu/tổng tài sản có là một rủi ro thanh toán tiềm ẩn, khi có các -8- khoản nợ xấu phát sinh, doanh nghiệp không thu được các khoản phải thu đúng hạn thì có thể sẽ gặp những khó khăn về khả năng thanh toán. Những đặc điểm trên là đặc điểm chung của các DNXL có ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn, tình hình sản xuất kinh doanh và khả năng hoàn trả khoản vay của các doanh nghiệp này. Ngân hàng thương mại khi cho vay DNXL cần cân nhắc những đặc điểm này để đưa ra chính sách cho vay họp lý, đồng thời quản lý tốt hơn khoản cho vay.
Vai trò của doanh nghiệp xây lắp trong nền kinh tế Việt Nam Ngành xây dựng nói chung, lĩnh vực xây lắp Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay là một trong những ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế, có quan hệ gắn bó mật thiết, thuận chiều với sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Sự phát triển của nền kinh tế luôn đi cùng với những khoản đầu tư lớn vào xây dựng cơ sở hạ tầng. Hoạt động của ngành xây dựng, xây lắp góp phần phát triển cơ sở hạ tầng như xây dựng những công trình giao thông, công trình điện nước, đô thị,. tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế khác phát triển.
Vai trò của ngành xây dựng nói chung, lĩnh vực xây lắp nói riêng thể hiện trên các mặt sau: Thứ nhất, đầu tư xây dựng cơ bản, xây lắp góp phần phát triển nhanh kết cấu hạ tầng KTXH. Nguồn vốn đầu tư của Nhà nước trong thời gian qua đã tập trung đầu tư xây dụng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và KTXH ở các vùng, miền trong cả nước; quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn và nông nghiệp, các vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và KTXH ngày càng được phát triển, hoàn thiện, làm thay đối diện mạo của nhiều địa phương trong cả nước. Một sổ đô thị mới ra đời; nhiều khu công nghiệp được hình thành; nhiều sân bay, bến cảng được hiện đại hóa; giao thông đường bộ (quốc lộ, tỉnh lộ) phát triển mạnh; giao thông nông thôn được cải thiện; vận tải đường sắt được nâng cấp; bệnh viện và trạm y tế đạt -9- tiêu chuẩn cao hơn; các trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề và các trường trung học phố thông được xây dựng khang trang hơn; các trường trung học cơ sở, tiếu học ở các vùng, ke cả các vùng khó khăn đang nhanh chóng được kiên cố hóa.
Thứ hai, xây dựng cơ bản và xây lắp góp phần phát triển nền kinh tế đất nước.