Chương 1: Cơ sở lý luận chung về đánh giá thực hiện Chương trình 30a. Chương 2: Đánh giá thực hiện Chương trình 30a trên địa bàn huyện Như Xuân giai đoạn 2011 – 2015. Chương 3: Giải pháp thực hiện Chương trình 30a trên địa bàn huyện Như Xuân đến năm 2020. 13 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH 30A 1.
Cơ sở lý luận về đói nghèo và giảm nghèo bền vững 1. Quan niệm về đói nghèo và xác định chuẩn nghèo 1. Quan niệm về đói nghèo “Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu. Nó tồn tại ở mọi quốc gia, mọi thời điểm không chỉ ở các nước có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ngay ở các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia là khác nhau” (Ngô Thắng Lợi, 2012). Mặc dù vậy, quan điểm về đói nghèo lại có nhiều điểm tương đồng và tiêu chí chung nhất để xác định đói nghèo chính thu nhập hay chỉ tiêu thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người. Để đưa ra được một chính sách tốt, toàn diện giải quyết vấn đề nghèo đói, giảm nghèo bền vững cần phải hiểu vấn đề nghèo đói theo nhiều khía cạnh. Về cơ bản “Nghèo đói được hiểu là sự thiếu thốn các điều kiện thiết yếu của cuộc sống” (Ngô Thắng Lợi, 2012).
Tuy nhiên, nghèo đói cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người, nghèo đói không chỉ xem xét ở khía cạnh về thu nhập mà còn xem xét về khía cạnh đa chiều khác như khả năng hưởng thụ hay tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin. Để có cái nhìn tổng thể và đưa ra một chính sách toàn diện cần hiểu nghèo đói theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng: Theo nghĩa hẹp: “Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, đó là thu nhập hạn chế, thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng ở mức độ tối thiểu, đặc biệt là những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, có cảm 14 giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng. Theo nghĩa rộng: “Nghèo đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc có thể chấp nhận được” (Ngô Thắng Lợi, 2012). Tại hội nghị bàn về nghèo đói ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan tháng 9/1993 đưa ra khái niệm đói nghèo như sau: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”.
Trong khi đó, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) lại đưa ra từng khái niệm riêng biệt giữa nghèo và đói, cụ thể : - “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. - “Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo cho nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, thường vay nợ cộng đồng và thiếu khả năng chi trả”. Theo quan điểm mà Liên hợp quốc lại phân chia thành nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối: - “Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu.
Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống là những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. Ngoài những nhu cầu cơ bản nêu trên, cũng có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm quyền được tham sgia vào các quyết định của cộng đồng”. - “Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phân dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định tùy thuộc vào mức sống chung của xã hội.
Như vậy, nghèo tương đối gắn với gắn liền với sự chênh lệch về 15 mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định”. Trong thực tế đói nghèo không phải là một khái niệm cố định cho mọi thời kỳ, mọi vùng miền, mọi quốc gia. “Nó là một khái niệm động, tùy vào quy mô của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế, khả năng nguồn lực tài chính, đồng thời căn cứ vào các kết quả nghiên cứu, điều tra, khảo sát từ thực tế để đưa ra chỉ tiêu về đói nghèo phù hợp với điều kiện của đất nước trong từng giai đoạn. Chuẩn nghèo ở Việt Nam Ở Việt Nam, có hai phương pháp chủ yếu để xác định chuẩn nghèo và tính các chỉ tiêu về nghèo đói: Thứ nhất là phương pháp do Tổng cục thống kê – Ngân hàng thế giới (GSO – WB) được dùng để phân tích, tìm hiểu về sự thay đổi của tình trạng nghèo trong dài hạn; Thứ hai, là phương pháp do Bộ LĐ, TB&XH (Phương pháp MOLISA) được dùng nhằm đưa ra phương thức phân loại xác định đối tượng thụ hưởng trong các chương trình giảm nghèo để theo dõi, đánh giá tình trạng nghèo ở thời điểm ngắn hạn.
Đây là hình thức phổ biến trên thế giới, để theo dõi sự thay đổi tình trạng nghèo cũng như định hướng chính sách giảm nghèo của Chính phủ. Hai phương pháp này được thực hiện theo ba bước, bao gồm:“Chọn ra một thước đo phúc lợi (theo chi tiêu hoặc thu nhập); Xác định chuẩn nghèo (áp dụng một mức độ tối thiểu chấp nhận được của thước đo đó); Ước tính các chỉ tiêu về nghèo (tỷ lệ nghèo, khoảng cách nghèo) sử dụng thước đo chuẩn nghèo và số liệu khảo sát.” Nguồn: Ngân hàng thế giới Hình 1.1: Các bƣớc đo lƣờng nghèo Nước ta, chuẩn nghèo do Bộ LĐ, TB&XH công bố, quy định để xác định 16 ngưỡng nghèo ở từng thời kỳ theo 2 khu vực là nông thôn và thành thị (xem thêm ở Phụ lục 1). “Với việc xác định được chuẩn nghèo, chỉ tiêu phổ biến và tổng quát nhất để đánh giá đói nghèo hiện nay là việc đếm số người sống dưới chuẩn nghèo hay còn gọi là tỷ lệ hộ nghèo hoặc chỉ số đếm đầu người. Tỷ lệ nghèo (tỷ lệ hộ nghèo) được tính bằng tỉ lệ phần trăm của số dân (hộ) có thu nhập dưới chuẩn nghèo trên tổng số dân (tổng hộ).” Tuy nhiên, để phản ánh được tính chất gay gắt của nghèo đói và có chính sách cần thiết, hữu hiệu, người ta còn sử dụng chỉ số “khoảng cách nghèo” hay còn gọi là chỉ số thiếu hụt (so với chuẩn nghèo).
Khoảng cách nghèo là “phần chênh lệch giữa mức chi tiêu của người nghèo so với ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm so với ngưỡng nghèo”. Khi so sánh các nhóm dân cư trong một nước, khoảng cách nghèo cho biết tính chất và mức độ nghiêm trọng của nghèo khổ giữa các nhóm khác nhau. “Cùng với đó, người ta còn dùng chỉ số bình phương khoảng nghèo, tức là tăng thêm trọng số cho những nhóm nghèo nhất trong dân số để thể hiện mức độ nghiêm trọng (hay cường độ) của đói nghèo cho những nhóm người có khoảng các nghèo lớn hơn trong số những người nghèo.” “Các thước đo này được dùng phổ biến ở nước ta, tuy nhiên, các thước đo trên mới chỉ tập trung đo lường khía cạnh thiếu thốn về vật chất của người nghèo. Bên cạnh đó còn có rất nhiều thước đo định tính khác để phản ánh sự thiếu thốn về y tế, giáo dục, nguy cơ dễ bị tổn thương và tình trạng không có.
Quan niệm giảm nghèo bền vững và chỉ tiêu đánh giá mức độ giảm nghèo bền vững 1. Quan niệm giảm nghèo bền vững Giảm nghèo bền vững là một trong những vấn đề cần giải quyết trong mục tiêu phát triển bền vững.“Cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về nghèo bền vững hay giảm nghèo theo hướng bền vững là gì? Trên thực tế, để giải quyết dứt điểm nghèo đói ta cần quan tâm đến cả số lượng và chất lượng giảm 17 nghèo. Số lượng giảm nghèo là một con số tuyệt đối hộ nghèo (người nghèo) giảm được trong một thời kỳ nhất định (ở nước ta tính theo chuẩn nghèo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội). Chất lượng giảm nghèo lại nói lên thực chất kết quả của giảm nghèo, nó được thể hiện qua chỉ tiêu chất lượng cuộc sống được nâng lên; khoảng cách thu nhập giữa các nhóm, khu vực được rút ngắn, khả năng ứng phó với các rủi ro, bất lợi gặp phải để không bị tái nghèo.”Như vậy, việc giải quyết tốt chất lượng giảm nghèo sẽ đảm bảo giảm giảm nghèo được bền vững.
Theo đó, giảm nghèo bền vững có thể hiểu như sau: “Giảm nghèo bền vững là giúp cho các hộ nghèo có thu nhập ổn định để thoát nghèo, chất lượng cuộc sống được nâng lên và có các kỹ năng, kỹ thuật để có khả năng ứng phó với những bất lợi xảy ra để không tái nghèo”. Chỉ tiêu đánh giá mức độ giảm nghèo bền vững Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo, không thể chỉ đánh giá dựa trên số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm xuống mà phải căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau. Hiện nay, nước ta đang sử dụng tiêu chí tiếp cận nghèo đói đa chiều để xác định chuẩn nghèo, việc đánh giá theo các tiêu chí tiếp cận nghèo đa chiều đồng thời cũng phản ánh được kết quả giảm nghèo theo hướng bền vững hiện nay. Trong đó việc đánh giá mức độ giảm nghèo bền vững cần chú trọng đến: thu nhập thực tế của người nghèo, hộ nghèo có được cải thiện, vượt qua được chuẩn nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo; Cơ hội và khả năng tiếp cận đầy đủ nguồn lực sản xuất, các dịch vụ hỗ trợ; khả năng ứng phó, tránh được rủi ro, bất lợi gặp phải; đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục, dạy nghề, y tế, chăm sóc sức khỏe.