lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận chung của xuất khẩu hàng hóa và xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trƣờng Hoa Kỳ. Thực trạng xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam sang thị trƣờng Hoa Kỳ. Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VÀ XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG HOA KỲ 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VẬN DỤNG ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU MẶT HÀNG DỆT MAY 1. Thƣơng mại quốc tế và cơ sở lý thuyết của thƣơng mại quốc tế 1. Khái niệm thƣơng mại quốc tế Thƣơng mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tƣợng trao đổi thƣờng là vƣợt ra ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia) thông qua hoạt động mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới.
Hoạt động thƣơng mại quốc tế ra đời sớm nhất trong các quan hệ quốc tế và ngày nay nó vẫn giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Sở dĩ thƣơng mại quốc tế có vai trò quan trọng nhƣ vậy bởi vì kết quả của các quan hệ kinh tế quốc tế khác cuối cùng đƣợc thể hiện tập trung trong thƣơng mại quốc tế và quan hệ hàng hóa – tiền tệ vẫn là quan hệ phổ biến nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Cơ sở lý thuyết của thƣơng mại quốc tế Lý thuyết về thƣơng mại quốc tế đƣợc coi là bắt đầu bằng các tác phẩm của trƣờng phái trọng thƣơng vào các thế kỷ 16 đến 18. Vào thời gian đó, vàng và bạc đƣợc ngƣời ta sử dụng với tƣ cách là tiền tệ và tạo nên kho của cải của các quốc gia.
Một quốc gia tích lũy đƣợc càng nhiều vàng bạc thì càng trở nên giàu có và hùng mạnh hơn. Các tác giả trọng thƣơng lập luận rằng xuất khẩu đối với một quốc gia rất có ích vì nó kích thích sản xuất trong nƣớc, đồng thời làm gia tăng lƣợng của cải của quốc gia. Ngƣợc lại nhập khẩu là gánh nặng vì nó làm giảm nhu cầu đối với hàng hóa sản xuất trong nƣớc và hơn nữa dẫn tới sự thất thoát của cải của quốc gia. Nhƣ vậy sức mạnh và sự 4 giàu có của một quốc gia sẽ tăng lên nếu quốc gia đó xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu.
- Lý thuyết thƣơng mại quốc tế dựa trên lợi thế của Adam Smith: Adam Smith là ngƣời đầu tiên đƣa ra sự phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc thƣơng mại quốc tế. Trong tác phẩm nổi tiếng “của cải của các dân tộc” xuất bản lần đầu tiên vào năm 1776, Adam Smith đã đƣa ra ý tƣởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích nguồn gốc và lợi ích của thƣơng mại quốc tế. Theo Adam Smith khi một quốc gia chuyên môn hóa vào những ngành mà họ có lợi thế tuyệt đối cũng có nghĩa là sử dụng những lợi thế tuyệt đối để sản xuất thì điều đó sẽ cho phép quốc gia này sản xuất ra sản phẩm với chi phí hiệu quả hơn. Lợi thế đó có thể là lợi thế về tài nguyên (nhiều, dễ khai thác), lợi thế về nguồn nhân lực (dồi dào, giá nhân công rẻ…) hay nỗ lực của chính quốc gia (kết quả của sự phát triển khoa học – công nghệ, quan tâm đến đầu tƣ nguồn nhân lực để có đội ngũ lao động lành nghề…) Adam Smith đã xây dựng mô hình đơn giản dựa trên lợi thế tuyệt đối để giải thích lợi ích của thƣơng mại quốc tế đối với các quốc gia.
Theo ông nếu nƣớc A có thể sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn nƣớc B và ngƣợc lại nƣớc B lại có thể sản xuất mặt hàng X rẻ hơn nƣớc A thì khi đó nƣớc A nên tập trung sản xuất mặt hàng Y và xuất khẩu sang nƣớc B, còn nƣớc B nên tập trung sản xuất mặt hàng X và xuất khẩu sang nƣớc A. Trong trƣờng hợp này, mỗi nƣớc đƣợc coi là có lợi thế tuyệt đối về sản xuất từng mặt hàng. Thông qua việc chuyên môn hóa và trao đổi quốc tế mà 2 nƣớc đều tìm đƣợc lợi ích từ thƣơng mại: tiêu dùng đƣợc nhiều hàng hóa hơn với mức giá thấp nhất. Nhƣ vậy lợi thế tuyệt đối có thể đƣợc coi là cơ sở để giải thích phần nào về sự cần thiết của thƣơng mại quốc tế.
Tuy nhiên lý thuyết thƣơng mại quốc tế của Adam Smith có hạn chế là không cho phép giải thích đƣợc hiện tƣợng là tại sao khi một nƣớc có mọi lợi thế hơn nƣớc khác hoặc không có lợi thế nào cả (bất lợi thế) nhƣng thƣơng mại quốc tế vẫn diễn ra. Để giải quyết vấn 5 đề này cần dựa vào học thuyết có tính khái quát hơn. Đó là lý thuyết về lợi thế so sánh (lợi thế tƣơng đối) của David Ricardo. - Lý thuyết thƣơng mại quốc tế dựa trên lợi thế so sánh của David Ricardo: D.Ricardo (1772-1823) đã có công tìm ra những mâu thuẫn trong lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và phát triển ở mức độ cao hơn.
Khi một nƣớc có lợi thế tuyệt đối so với nƣớc khác về một loại hàng hóa thì lợi ích của thƣơng mại quốc tế là rất rõ ràng. Song những nƣớc không có lợi thế tuyệt đối thì chỗ đứng của họ trong phân công lao động quốc tế là ở đâu? Và thƣơng mại đối với các nƣớc này sẽ diễn ra nhƣ thế nào? Sự khác nhau giữa lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh là ở chỗ: lợi thế tuyệt đối đƣợc xây dựng trên cơ sở sự khác biệt về số lƣợng lao động thực tế đƣợc sử dụng ở các nƣớc là khác nhau (nói cách khác đó là sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối), còn lợi thế so sánh lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tƣơng đối. Giả sử thƣơng mại quốc tế chỉ diễn ra giữa 2 nƣớc: Hoa Kỳ và Việt Nam với 2 mặt hàng là Thép và Quần áo, Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và đƣợc di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nƣớc.1: Chi phí sản xuất và lợi thế tuyệt đối Chi phí lao động Sản phẩm Hoa Kỳ Việt Nam Thép (1 đơn vị) 4 24 Quần áo (1 đơn vị) 10 12 Qua số liệu cho thấy Hoa Kỳ cần ít lao động hơn so với Việt Nam để sản xuất cả 2 mặt hàng và do vậy xét theo lợi thế tuyệt đối thì Hoa Kỳ có hiệu quả hơn Việt Nam trong sản xuất 2 mặt hàng. Tuy nhiên điều này sẽ không làm hạn chế lợi ích từ thƣơng mại giữa 2 nƣớc.
Điều này đƣợc phân tích dựa trên giá cả tƣơng đối giữa 2 hàng hóa này 6 Bảng 1.2: Giá tƣơng đối và lợi thế so sánh Giá tƣơng đối Hoa Kỳ Việt Nam Thép/Quần áo 0,4 2 Quần áo/Thép 2,5 0,5 Nhƣ vậy xét theo giá tƣơng đối giữa thép và quần áo thì Việt Nam có lợi thế trong sản xuất quần áo, còn Hoa Kỳ có lợi thế trong sản xuất thép. Nếu Hoa Kỳ sử dụng 10 đơn vị lao động để sản xuất ra 2,5 đơn vị thép và nếu tỉ lệ trao đổi quốc tế đúng bằng giá tƣơng đối của Việt Nam (nghĩa là 1 đơn vị thép trao đổi với 2 đơn vị quần áo) thì 2,5 đơn vị thép đó trao đổi với Việt Nam sẽ có đƣợc 5 đơn vị quần áo (nhƣ vậy Hoa Kỳ sẽ có lợi ích là tăng tiêu dùng quần áo lên 4 đơn vị). Tƣơng tự nếu Việt Nam dùng 24 đơn vị lao động để sản xuất 2 đơn vị quần áo (thay cho sản xuất 1 đơn vị thép) và trao đổi với Hoa Kỳ để có 5 đơn vị thép (với tỷ lệ trao đổi bằng giá tƣơng đối ở Hoa Kỳ: 1 đơn vị quần áo trao đổi đƣợc 2,5 đơn vị thép) thì Việt Nam sẽ thu đƣợc lợi ích là tiêu dùng thêm 4 đơn vị thép. Từ ví dụ trên có thể thấy rằng, lợi thế so sánh đã chỉ ra rằng: một nƣớc sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tƣơng đối so với nƣớc khác.
Hay nói cách khác là xuất khẩu mặt hàng mà nƣớc đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tƣơng đối so với nƣớc khác. - Lý thuyết của Heckscher-Ohlin: Vào đầu thế kỷ XX, hai nhà kinh tế học ngƣời Thụy Điển là Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã đề xuất quan điểm cho rằng chính mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau và hàm lƣợng các yếu tố sản xuất sử dụng để làm ra các mặt hàng khác nhau mới là những nhân tố quan trọng qui định thƣơng mại. Lý thuyết mà họ xây dựng thƣờng đƣợc gọi là lý thuyết H-O. So với lý thuyết cổ điển, lý thuyết H-O không những giải thích đƣợc bản chất của lợi thế so sánh, mà còn cho phép phân tích đƣợc tác 7 động của thƣơng mại quốc tế đến giá cả các yếu tố sản xuất và quá trình phân phối thu nhập giữa các quốc gia, cũng nhƣ phạm vi từng quốc gia.
Lý thuyết H-O đã dựa trên khả năng cung cấp và hàm lƣợng các yếu tố sản xuất để giải thích lợi thế của một nƣớc trong trao đổi quốc tế. Trong tác phẩm “Thƣơng mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản năm 1933, Heckscher- Ohlin đã giải thích hiện tƣơng thƣơng mại quốc tế nhƣ sau: “… trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi nƣớc đều hƣớng đến chuyên môn hóa các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nƣớc đó là thuận lợi nhất…”. Lập luận này dựa trên sự thừa nhận rằng mỗi sản phẩm đòi hỏi sự liên kết khác nhau giữa các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ…) và giữa các nƣớc có sự chênh lệch về các yếu tố này. Mỗi nƣớc sẽ chuyên môn hóa trong những ngành sản xuất cho phép sử dụng các yếu tố sản xuất với chi phí rẻ hơn, chất lƣợng tốt hơn so với nƣớc khác.
Lý thuyết H-O đƣợc coi là một trong những lý thuyết mạnh nhất của kinh tế học nói chung. Lý thuyết này giữ vị trí thống trị trong cách giải thích thƣơng mại cho đến những năm 50 khi những cố gắng kiểm chứng đầu tiên cho thấy Hoa Kỳ - quốc gia dồi dào tƣơng đối về vốn lại không xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều vốn theo nhƣ dự đoán của lý thuyết.