Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP 1. Các nghiên cứu của nước ngoài về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp Khởi nghiệp không còn là vấn đề mới, trong các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu về khởi nghiệp nhưng những nghiên cứu liên quan đến thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp thì không có nhiều và chủ yếu theo các hướng nghiên cứu như sau: Theo hướng chính sách thúc đẩy khởi nghiệp Xu và Chen [185] đã đánh giá tác động của các chính sách khởi nghiệp đối với sự phát triển của các DNKN. Nghiên cứu đã điều tra 315 doanh nghiệp khởi nghiệp, sử dụng mô hình SEM để đánh giá yếu tố chính sách. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính sách thúc đẩy có tác động cùng chiều với sự phát triển của DNKN.
Nghiên cứu cũng đề xuất một số chính sách để thúc đẩy khởi nghiệp như: hỗ trợ về vốn, hỗ trợ thuế, hỗ trợ thị trường…. Trong nghiên cứu của Reynolds và cộng sự [153] sử dụng số liệu của 43 quốc gia trong giai đoạn từ 1998 đến 2003 đã khẳng định rõ vai trò của DNKN đối với sự phát triển của nền kinh tế và chính sách hỗ trợ khởi nghiệp sẽ giúp các DNKN vượt qua được những khó khăn ban đầu, đây sẽ là nền tảng để phát triển một nền kinh tế mới trong tương lai. Tuy nhiên trong nghiên cứu này chưa chỉ ra được tính đặc thù của từng quốc gia đối với các chính sách thúc đẩy khởi nghiệp. Nghiên cứu Yang [186], sử dụng mô hình SEM với việc phỏng vấn 1231 người trả lời từ 31 tỉnh thành và chỉ ra chính sách hỗ trợ khởi nghiệp có vai trò hàng đầu trong việc tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động khởi nghiệp đặc biệt là các sinh viên tại các trường đại học cao đẳng.
Đồng quan điểm đó, Xie và cộng sự [184] cũng cho rằng mỗi địa phương có những điều kiện khác nhau, các nhà xây dựng chính sách cần chú ý đến những nguồn lực hiện tại để có những những chính sách phù hợp và điều chỉnh theo xu hướng của thị trường. Tuy nhiên các nghiên cứu này mới dừng ở dưới góc độ các DNKN mà chưa có góc nhìn từ các nhà quản lý Nhà nước như quá trình xây dựng, ban hành cũng như những điều chỉnh chính sách này theo thời gian. 7 Theo hướng hỗ trợ các ý tưởng khởi nghiệp Ý tưởng khởi nghiệp là bước tiền đề để khởi nghiệp. Chính vì vậy, các địa phương cần phải nuôi dưỡng ý tưởng từ khi mới hình thành.
Shane và cộng sự [160] đã dựa trên 08 công ty khởi nghiệp phát hiện ra rằng: các doanh nhân sẵn sàng lựa chọn công nghệ để phục vụ quá trình sản xuất và tinh thần khởi nghiệp dựa trên thông tin về cơ hội cũng như hỗ trợ của chính phủ đối với ý tưởng khởi nghiệp đó. Cùng với quan điểm trên, trong nghiên cứu của Boudreaux [83] đã sử dụng dữ liệu từ 25 nước và sử dụng biểu đồ phân tán, hệ số tương quan và hồi quy OLS để đánh giá hoạt động hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ sử dụng mô hình OLS giản đơn, không dùng các dữ liệu không gian nên chưa thể đánh giá mức độ thay đổi của các biến theo thời gian. Trong nghiên cứu của Dimov [97], McMullen và Shepherd [142] thông qua tổng hợp các nghiên cứu trước đây cũng đã khẳng định vai trò của chính phủ trong việc hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp đó là cung cấp thông tin, hỗ trợ, tư vấn… để các doanh nhân có được góc nhìn toàn diện về ý tưởng khởi nghiệp.
Từ đó đưa ra quyết định có thực hiện ý tưởng đó hay không nhằm tránh những rủi ro không cần thiết, cái mà nhiều doanh nhân không nhận thức được những khó khăn và nguy cơ xảy ra đối với những ý tưởng đó. Các nghiên cứu này tập trung tại các nước phát triển, nơi mà điều kiện kinh tế tốt, các dịch vụ hỗ trợ nhiều mà chưa nghiên cứu tới những nước đang phát triển, những nơi điều kiện khó khăn, nguồn lực nhà nước phải sử dụng vào nhiều nhiệm vụ quan trọng khác. Theo hướng xây dựng và liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp Basso và cộng sự [75] đã thực hiện nghiên cứu về hệ sinh thái khởi nghiệp ở 08 nước Nam Âu. Bằng phương pháp thống kê mô tả, nghiên cứu đã chỉ ra các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm: doanh nghiệp lớn, các trường đại học, các tổ chức hỗ trợ, các tổ chức tài trợ, các tổ chức nghiên cứu, các nhà cung cấp dịch vụ.
Mỗi một tổ chức có những vai trò và chức năng khác nhau. Do vậy, để có thể phát huy được lợi thế so sánh của các tổ chức cần phải có biện pháp liên kết giữa các tổ chức này. Các thành viên của hệ sinh thái có thể tạo ra nhiều lợi ích khi cùng làm một nhóm hơn là thực hiện một mình và việc hợp tác trong hệ sinh thái 8 được kỳ vọng sẽ mở ra hiệu quả vượt trội [170]. Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra vẫn mang tính chung chung như tập trung vào thế mạnh địa phương, xây dựng chiến lược phù hợp, tập trung vào những ý tưởng kinh doanh khả thi… mà chưa chỉ rõ được những giải pháp riêng cho từng quốc gia cũng như điều kiện để thực hiện các giải pháp đó.
Chính phủ với vai trò rất lớn trong việc tạo ra môi trường phát triển nhằm mang lại lợi ích lâu dài cho các DNKN. Trong nghiên cứu của Fredrickson [105] được dựa trên từ các lý thuyết về động lực cũng như vai trò của các thành phần trong hệ sinh thái đã làm rõ vai trò của chính phủ là cầu nối giữa các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp thông qua những chính sách hỗ trợ dành riêng cho từng tổ chức, xây dựng cơ chế phối hợp, các chương trình liên kết để phát huy tốt nhất những thế mạnh của các tổ chức trong hệ sinh thái. Thêm vào đó, các nghiên cứu Schiffer và cộng sự [155], Watson và cộng sự [178] cũng chỉ rõ sự cần thiết phải kết nối giữa các tổ chức trong hệ sinh thái. Các nghiên cứu này đã đề xuất một số chính sách để liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái như tạo các trung tâm khởi nghiệp nơi mà các DNKN tìm được các tổ chức phù hợp, ký hợp đồng liên kết và chuyển giao giữa các tổ chức… Nhà nước sẽ là chủ thể trung gian điều phối các mối quan hệ này, đưa ra những chính sách hỗ trợ kịp thời để duy trì và phát triển mạng lưới hệ sinh thái khởi nghiệp.
Tuy nhiên trong các nghiên cứu này mới dừng lại trong việc xây dựng mô hình liên kết chung chung, chủ yếu tại các nước phát triển mà chưa có những nghiên cứu cụ thể về mô hình liên kết, chính sách liên kết cho từng quốc gia cụ thể, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Theo hướng hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp Các DNKN là đối tượng tiên phong trong việc áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh nên sẽ gặp rất nhiều rủi ro. DNKN có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế: tạo bước đột phá trong nền kinh tế, tạo mô hình kinh doanh mới…. Vì vậy, cần phải có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu của Schiffer và cộng sự [155] đã phân tích chỉ ra các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào các chương trình và dự án cụ thể mà không có một góc nhìn bao quát với nhiều đối tượng và không gian rộng, như vậy, rất khó để các nhà hoạch định chính sách có thể đánh giá chính xác mức độ hiệu quả của các chính sách đó để đưa ra 9 những điều chỉnh trong tương lai. Bằng việc sử dụng 2 phương pháp hồi quy cơ bản và hồi quy mở rộng với số liệu lấy từ 42 quốc gia nghiên cứu đã làm rõ vai trò của các chính sách hỗ trợ phát triển các DNKN về tài chính, cơ sở hạ tầng, tỷ giá hối đoái… mà chưa làm rõ được sự ảnh hưởng của các chính sách cụ thể đối với từng giai đoạn phát triển của các DNKN. Verheul và cộng sự [176] nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1972 đến năm 1998 tại 23 quốc gia đã tập trung nghiên cứu chính sách hỗ trợ về mặt tài chính như thành lập các quỹ hỗ trợ DNKN, các quỹ đầu tư mạo hiểm, hỗ trợ về lãi suất từ phía ngân hàng. Điều này cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của Pretorius và cộng sự [152].
Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đề cập nhiều vai trò của chính phủ trong việc xây dựng chính sách tổng thể, cơ chế phối hợp giữa DNKN với các tổ chức tài chính mà chỉ tập trung đánh giá việc cung cấp vốn cho DNKN. Trong nghiên cứu của Leffler và Svedberg [133], Paco và cộng sự [151], O’Connor [148], GEM [107] đã chỉ rõ vai trò của giáo dục đối với hoạt động khởi nghiệp và sự cần thiết hỗ trợ giáo dục cho các DNKN. Điều này giúp các DNKN vượt qua được những khó khăn, khai thác tốt các tiềm năng, đặc biệt áp dụng thành công KHCN mới vào những ý tưởng kinh doanh mới. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung vào vai trò của giáo dục mà chưa đề cập đến những vấn đề quan trọng khác như văn hóa, trình độ, điều kiện từng địa phương… Trong các nghiên cứu này mới đang tập trung vào hỗ trợ cung cấp kiến thức cho DNKN từ các tổ chức giáo dục nhưng chưa giải quyết được tận gốc của vấn đề như: nguồn kinh phí, chính sách, cơ chế….
để các tổ chức giáo dục này có thể tiếp tục hỗ trợ cũng như đồng hành cùng các DNKN trong quá trình sản xuất kinh doanh. Theo hướng hoạt động kiểm tra, giám sát công tác hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp Kiểm tra, giám sát là thành phần rất quan trọng đối với quá trình thúc đẩy khởi nghiệp của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Điều này sẽ đảm bảo các đối tượng tham gia thực hiện đúng các quy định pháp luật, hạn chế thất thoát lãng phí nguồn lực của nhà nước. Nghiên cứu của Chowdhury và cộng sự [91] được thực hiện trong giai đoạn 2001 đến 2005 với 44 quốc gia đã sử dụng mô hình dữ liệu bảng để đánh giá các giả thuyết.