CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ CAO VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Các vấn đề cơ bản về Khu công nghiệp, công nghệ cao 1. Khái niệm Khu công nghiệp Loại hình KCN đã có một quá trình lịch sử phát triển hơn 100 năm nay trên thế giới, bắt đầu từ những nước có nền công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ cho đến những nước có nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, … đang được các quốc gia học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa. Các KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi khác nhau tuỳ theo điều kiện của từng Quốc gia nhưng chúng đều mang tính chất và đặc trưng của KCN.
Hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về KCN. Định nghĩa 1: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cư sinh sống trong khu. Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ. KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính – kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu.
Định nghĩa 2: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác. Theo quan điểm này, ở một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia, …. đã hình thành nhiều KCN với qui mô khác nhau và đây cũng là loại hình KCN nước ta đang áp dụng hiện nay. Vẫn còn những quan niệm khác nhau, chưa có sự thống nhất về khái niệm KCN.
Ở Việt Nam, khái niệm về KCN đã được trình bày tại nhiều văn bản pháp luật như Quy chế Khu công nghiệp ban hành theo Nghị định số 192/NĐ-CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996; Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao ban hành theo Nghị định số 36/CP ngày 24/02/1997 của Chính phủ, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của 11 Chính phủ quy định về quản lý Khu công nghiệp và Khu kinh tế, Luật đầu tư năm 2020. Định nghĩa ban đầu về KCN được nêu trong Quy chế Khu công nghiệp ban hành theo Nghị định số 192/NĐ-CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ thì KCN được hiểu là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý Khu công nghiệp và Khu kinh tế thì khái niệm về khu công nghiệp được hiểu như sau: “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ. Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái.” Tại Điều 3 của Luật Đầu tư năm 2020 giải thích về KCX, KCN, KKT như sau: “Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, cung ứng dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh” Tóm lại, KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập. Đặc trưng của Khu công nghiệp KCN được phát triển mạnh ở hầu hết các quốc gia, mặc dù có sự khác nhau về quy mô, địa điểm và phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng, nhìn chung các KCN có những đặc trưng sau: 12 Về tính chất hoạt động: Khu công nghiệp là nơi xây dựng để thu hút các đơn vị sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc các đơn vị kinh doanh dịch vụ gắn liền với sản xuất công nghiệp; là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ mà không cần có dân cư (gọi chung là doanh nghiệp KCN). Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: thông thường việc phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN do một công ty xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đảm nhiệm xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đường xá, hệ thống điện nước, điện thoại….
Ở Việt Nam những công ty này là các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp trong nước thực hiện. Các công ty này được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng KCN. Về tổ chức quản lý: Khu công nghiệp được quản lý bởi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Trên thực tế, KCN được quản lý bởi cơ quan chuyên trách là Ban Quản lý KCN cấp tỉnh (cơ quan trực thuộc UBND tỉnh) để thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong KCN.
Vai trò của Khu công nghiệp trong phát triển kinh tế 1. Phát triển công nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Khu công nghiệp đóng vai trò là trọng điểm kinh tế của địa phương, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách, phát triển các ngành nghề mới, tạo việc làm cho nguồn lao động sẵn có ở địa phương và thu hút nguồn lao động từ các địa phương khác. Đẩy mạnh phát triển KCN sẽ là đầu tàu tăng trưởng, kéo theo sự phát triển của các ngành nghề khác. Các doanh nghiệp được tập trung vào các KCN sẽ hạn chế sự lãng phí quỹ đất, giúp cho địa phương có thể tập trung nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng trong các KCN, thu hút nguồn vốn đầu tư.
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng giảm bớt chi phí tìm nơi đầu tư, tránh các thủ tục hành chính rườm rà trong thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Sự hình thành và phát triển của KCN góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, làm tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và 13 dịch vụ, làm giảm tỷ trọng nông nghiệp của cả nước và của địa phương nơi có các KCN. Sự phát triển của KCN đóng vai trò then chốt trong việc phát triển hàng hoá trên thị trường trong và ngoài nước, tăng nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp nhằm tái mở rộng sản xuất, đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch xuất khẩu, đổi mới trang thiết bị, tích lũy thêm kinh nghiệm trong quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Phát huy hiệu quả những thành tựu của khoa học và công nghệ, công tác bảo vệ môi trường được đảm bảo, tạo tiền đề cho phát triển bền vững KCN được quy hoạch theo một kế hoạch và chiến lược phát triển lâu dài của nền kinh tế; với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương đối hiện đại, đồng bộ; cùng với những ưu đãi mà Nhà nước dành cho các KCN trong nhập khẩu vật tư, thiết bị, về nguồn vốn vay, về thuế…; là nơi tiếp nhận chuyển giao và áp dụng có hiệu quả nhất những thành tựu phát triển của khoa học công nghệ, áp dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ với một địa bàn tương đối rộng.
Qua đó, KCN tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có thể tiếp nhận công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới, tận dụng được lợi thế của các nước đi sau để rút ngắn dần khoảng cách về khoa học công nghệ với các nước khác. Các KCN có ưu thế nổi trội là tiếp nhận khoa học công nghệ mà các khu vực kinh tế khác ít hoặc không có cơ hội. Điểm khác biệt chủ yếu của KCN với vùng ngoài KCN là cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN được xây dựng hoàn thiện và các doanh nghiệp KCN trong quá trình sản xuất phải chấp hành đầy đủ các quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường. Công tác này cũng được cơ quan chức năng giám sát một cách chặt chẽ nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của KCN.
Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động Một trong những mục tiêu quan trọng của các nước đang phát triển khi xây dựng các KCN là tạo nhiều cơ hội làm việc cho người lao động. Thực tiễn cho thấy, các KCN không chỉ giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương mà còn thu hút lao động từ các địa phương khác, thậm chí là lao động từ quốc gia khác đến sinh sống và làm việc. Qua đó, tay nghề và thu nhập của lao động địa phương được cải thiện và nâng cao. 14 Các KCN mở ra cơ hội du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý đồng thời là môi trường đào tạo huấn luyện nên những nhà quản lý có trình độ cao, có bản lĩnh, kinh nghiệm và những công nhân có tay nghề cao, có ý thức tác phong công nghiệp.
Do được tiếp cận với những dây chuyền công nghệ tiên tiến với kỹ thuật cao, buộc các nhà quản lý và người lao động phải tự rèn luyện và không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nhằm đủ khả năng đáp ứng và thay thế các chuyên gia người nước ngoài, qua đó, mức thu nhập không ngừng tăng lên tương xứng với vị trí mới đảm nhiệm.