CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC DÒNG VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Trong lý thuyết cũng như trong thực tiễn của các quốc gia hằng trăm năm qua đề có những mong muốn và hoạt động tìm kiếm, xác lập những cách thức để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, đều xác lập mô hình phát triển kinh tế phù hợp. Nhiều quốc gia đã thành công, vươn lên trong điều kiện hạn chế về tài nguyên. Mô hình kinh tế là cách thức diễn đạt những con đường, hình thái, nội dung phát triển kinh tế của các quốc gia thông qua các biến số, các nhân tố kinh tế trong quan hệ chặt chẽ vời điều kiện chính trị-xã hội. Mô hình phát triển kinh tế: 1.
Lý thuyết Linear- Stages: Ý tưởng về các giai đoạn phát triển khác nhau xuất hiện từ thế kỷ 18. Adam Smith lần đầu tiên cho rằng tất cả các xã hội đều trải qua 4 giai đoạn, cụ thể là săn bắn, hái lượm, sản xuất nông nghiệp, sản xuất hàng hoá. Theo Karl Marx, tất cả các xã hội đều phải trải qua, đó là chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Mô hình tăng trưởng về phát triển của Walt W.
Rostow là một điểm cộng thêm thuộc ý tưởng này. Trong đầu những năm 1950, khi thế giới đang khôi phục lại từ sự tàn phá của Thế Chiến Hai và hầu hết những nước là thuộc địa của các nước phát triển đều được độc lập, có một nhu cầu lớn về các chính sách phát triển đối với các nước mới độc lập này. Để chống lại đe doạ lan rộng từ chế độ cộng sản, các nước tư bản phát triển cố gắng đưa ra các đề xuất chính sách cứng rắn đối với các nước mới độc lập, các đề xuất này nhằm đưa các nước kém phát triển đi theo chiều hướng phát triển. Thành công của Kế hoạch Marshall của Mỹ nhằm giúp các nước mới thành lập ở các nước Tây Âu là thực tế và kinh nghiệm lịch sử của nước phát triển trong việc chuyển đổi các xã hội nông nghiệp sang các nước công nghiệp hiện đại có thể có những bài học quan trọng cho các nước đang phát triển, dẫn đến việc hình thành các lý thuyết giai đoạn của Rostow.
Theo Rostow, việc chuyển đổi từ kém phát triển đến phát triển có thể được nhận thấy trong hàng loạt các bước hay giai đoạn thông qua đó tất cả các nước phải đi đến. Ông miêu tả ba giai đoạn này là: a. Xã hội truyền thống: Giai đoạn này là giai đoạn đầu tiên của sự phát triển, như các xã hội săn bắn và hái lượm của Adam Smith hay các xã hội phong kiến của Marx. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Giai đoạn chuẩn bị cho sự cất cánh: Đây là giai đoạn bắt đầu có sự tiết kiệm. Một hay hai lĩnh vực sản xuất hàng hoá quan trọng với tiềm năng phát triển lớn được chú ý đến và đầu tư trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng cũng được thực hiện. Giai đoạn cất cánh: Giai đoạn này là giai đoạn quan trọng nhất trong 5 giai đoạn của mô hình Rostow. Lĩnh vực này có thể được nhận biết nhờ 3 đặc điểm chính, đó là: c.
Một sự gia tăng trong tỷ lệ đầu tư sản xuất từ 5% hay thấp hơn, trở thành 10% hay nhiều hơn thu nhập quốc dân. Sự phát triển của một hay hai lĩnh vực sản xuất quan trọng hơn với một tỷ lệ tăng trưởng cao. Sự tồn tại hay xuất hiện nhanh chóng của các khuôn khổ về thể chế, xã hội và chính trị làm nẩy sinh các động lực cho sự mở rộng khu vực hiện đại. Hướng tới giai đoạn trưởng thành: Đây là giai đoạn khi mà tất cả các cản trở đối với giai đoạn cất cánh không còn và xã hội đã tự đi vào con đường tăng trưởng kinh tế bền vững.
Thời đại tiêu dùng: Đây là giai đoạn cuối cùng. Một khi đã đạt được tới giai đoạn này thì tất cả các vấn đề mà các nước kém phát triển phải đối mặt với cũng sẽ qua và các xã hội sẽ đạt tới một giai đoạn tiêu dùng rộng lớn hơn. Mô hình tăng trưởng Harrod-Domar: Nền tảng lý thuyết của Lý Thuyết Giai Đoạn của Rostow và trọng tâm của thuyết đó về sự tiết kiệm xuất phát từ mô hình tăng trưởng Harrod-Domar (H-Đ). Phương trình chính của mô hình H-D là: Trong đó Y là thu nhập quốc dân, s là tỷ suất tiết kiệm và k tỷ lệ vốn-sản lượng.
Vì thế vế bên trái của biểu thức này là tỷ lệ gia tăng của thu nhập quốc dân. Với một k luôn ổn định và vì thế tỷ lệ gia tăng thu nhập quốc dân tương ứng với tỷ suất tiết kiệm của nền kinh tế. Ví dụ, nếu tỷ lệ vốn-sản lượng là 3, khi đó tỷ lệ tăng trưởng là 5%, tỷ suất tiết kiệm sẽ là 15%. Nếu như tỷ suất tiết kiệm chỉ là 5%, khi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 5 đó 10% kia có thể vay mượn nước ngoài hay từ viện trợ nước ngoài.
Đây là một luận cứ cơ bản đằng sau kế hoạch Marshall và kế hoạch này đã rất thành công. Lý thuyết Phụ thuộc thế giới : Khi lý thuyết phát triển hiện thời không mang lại bất cứ thay đổi nào trong cuộc sống của người dân ở các nước đang phát triển, thì sự bất bình gia tăng giữa các nhà kinh tế ở các nước đang phát triển đã dẫn đến sự xuất hiện của các lý thuyết phát triển khác. Các lý thuyết này trở nên phổ biến đối với các nhà kinh tế ở các nước đang phát triển trong những năm 1970, dần được biết đến như Cuộc cách mạng Phụ thuộc-Quốc tế. Ý tưởng cơ bản đằng sau Cuộc cách mạng Phụ thuộc-Quốc tế là các nước thế giới thứ ba bị dàn xếp trong một mối quan hệ phụ thuộc và thống trị với các nước giàu, và các nước giàu vô tình hay cố ý góp phần vào việc duy trì quan hệ này và hiện trạng đó được duy trì.
Các ý tưởng đã triển khai dưới tiêu đề mở rộng của Cuộc cách mạng Phụ thuộc-Quốc tế (được biết đến rộng rãi hơn là các lý thuyết phụ thuộc), có thể được phân thành 3 nhóm nhỏ sau đây: 2. Mô hình phát triển tân thực dân (Neocolonial Dependence Model): Đây là một ảnh hưởng gián tiếp của tư duy chủ nghĩa Mác. Những người tin vào lý thuyết này cấp tiến nhiều hơn là những người theo hai nhóm nhỏ kia. Theo lý thuyết này, sự kém phát triển của các nước thế giới thứ ba được coi là kết quả của hệ thống chủ nghĩa tư bản quốc tế bất công cao hay các mối quan hệ giữa nước giàu-nước nghèo.
Các nước giàu thông qua các chính sách vô tình hay cố ý bóc lột đã làm tổn thương đến các nước đang phát triển. Các nước giàu và một giai cấp thống trị chóp bu ở các nước đang phát triển, những người này được coi là tác nhân của các nước giàu, chịu trách nhiệm về hiện trạng kém phát triển ở các nước đang phát triển. Không giống với các lý thuyết giai đoạn hay các mô hình về sự thay đổi cơ cấu, các lý thuyết này coi tình trạng kém phát triển là kết quả của các cản trở bên trong như đầu tư, tiết kiệm thiếu hụt hay thiếu cơ sở hạ tầng, trình độ hay giáo dục, các thành tố của mô hình phụ thuộc thực dân mới coi sự kém phát triển như là một hiện tượng xuất phát từ nguyên nhân bên ngoài. Biện pháp giải quyết là khởi xướng các cuộc đấu tranh cách mạng nhằm lật đổ giới thượng lưu hiện thời của các nước đang phát triển và tổ chức lại hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới nhằm giải phóng các nước thế giới thứ ba khỏi sự kiểm soát trực tiếp và gián tiếp của các nước thế giới thứ nhất và các thế lực áp bức trong nước.
Mô hình biến hoá sai (False Paradigm Model): Những người đứng đằng sau lý thuyết này về bản chất kém cấp tiến hơn. Họ tin là mặc dầu các nước phát triển có các ý định tốt trong việc giúp đỡ các nước đang phát triển, nhưng các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 6 nhà tư vấn về chính sách của họ đơn giản không phù hợp trong tình hình các nước đang phát triển chủ yếu bởi họ không kết hợp chặt chẽ với các đặc điểm về thể chế văn hoá và xã hội đơn nhất của các nước đang phát triển. Kết quả là các chính sách này không gây ra bất cứ kết quả cuối cùng nào. Luận điểm Phát triển-Kép: Đây là sự mở rộng của khái niệm về thuyết nhị nguyên được bàn đến rộng rãi ở các nền kinh tế phát triển.
Bằng các từ ngữ đơn giản nó thể hiện mối quan hệ giữa các nước giàu và nước nghèo chỉ là một cái nhìn toàn cầu về thuyết nhị nguyên mà chúng ta thấy trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống. Sự nối kết giữa các nhân tố siêu cường và tiểu cường, là các nhân tố siêu cường hơn tuy ít hay không có tác dụng lôi lên các nhân tố tiểu cường hơn. Đôi khi trong thực tế, nó có thể thực sự dìm xuống. (TQ hiệu đính: TQ gọi đây là lý thuyết "an phận".
Nghĩa là trong đời sống, có người giàu thì có người nghèo, có người tốt thì có người xấu, cho nên có nước giàu thì phải có nước nghèo. Nhưng lý thuyết "an phận" này vi phạm ngụy biện "trắng đen". Thế giới này đâu chỉ đơn giản giữa giàu nghèo, tốt xấu, siêu cường và tiểu cường.) Những yếu kém chủ yếu của các lý thuyết phụ thuộc: Các lý thuyết phụ thuộc có hai yếu kém lớn, đó là: Thứ nhất, các lý thuyết này chủ yếu chỉ tập trung tới việc tìm ra tại sao các nước kém phát triển vẫn cứ kém phát triển. Họ không có các ý tưởng cụ thể như một nước nên bắt đầu và duy trì sự phát triển như thế nào.
Tóm lại, nếu các bạn tin vào sự giải thích này bạn sẽ có thể hiểu được đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém phát triển ở các nước kém phát triển nhưng bạn sẽ không có đầu mối để xem xét nước này nên thoát khỏi tình trạng đó như thế nào. Thứ hai, thất bại lớn của các nước theo đuổi cách tiếp cận cấp tiến/ triệt để này để có được đường lối cách mạng. Các nước này lật đổ giai cấp thống trị hiện thời và thay đổi chiến dịch cách mạng của việc bình thường hoá nhưng cuối cùng đã không đạt được bất cứ sự cải thiện có ý nghĩa nào trong điều kiện của dân chúng.