CHƯƠNG 1 : TONG QUAN CÁC VAN DE NGHIÊN CUU iu đến thoát nước đô thị trên thé Biển đổi khí hậu (BĐKH) và nước bién dâng dang là mỗi đe doa hiện hữu và to lớn mà. nhân loại phải đương đầu trong thé ky XX1. BDKH sẽ làm gia tăng tính ác hột của thiên tai củ về cường độ lẫ tn suất, Hậu quả của BĐKH và thiên tai không ai khác mà chính con người phải hứng chịu với mức độ ngày càng lớn, có nơi, có lúc đã trở thành. thảm họa cho cả một quốc „ khu vue.
Theo số liệu của các nhà quan tric từ Emergency Events Darabase, chi trong vòng 2 thé ky qua, số lượng các trận ngập lụt đồ thị tên toàn cầu đã tăng lên đảng kể, sây ảnh hưởng nghiêm trong đến đời sống BĐKH mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng (NBD), là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại. Chỉ trong vòng 2 thể kỷ qua, số lượng các trận ngập lụt đô thị toàn cầu đã tăng lên đáng kể, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống con người của các quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt là các đô thị lớn ven biển trên thé giới (theo Emergency Events Database) Tai nước Áo một giải pháp đặt ra đưới mực nước lũ dâng lên của sông Danube là xây một bức tưởng chống lũ. Nước dng đến đâu tường cao đến đỏ, Một công ty tai Ảnh là Flood Resolution đã phân tích kết cấu kỹ thuật, hệ thống này bao gồm hai phần chính: phần móng được xây dựng cổ định vĩnh viễn và phần rào chắn di động có thể dich chuyển. Hệ thing này được dựa trên một bức tring ngằm, bite trờng này bảo vệ một khu vục không bị nước ngằm trần vào, vốnding lên đồng th với mực nước lũ.
Độ siu của bức tring ngằm tay thuộc vào nÊn để ngầm, và sau độ quyết dink chiễu cao của rào chấn. Bức tường ngằm được làm chắc chắn bằng cách ấp xi mang phía tước hệ thing trồng chin nước di động. Các biện pháp phòng chẳng lũ ở thành phố Grein (hước Áo) được xây dựng tong khuôn khổ của dự án Machland Dam và là một trong sáu khu vực tường chồng lũ đi động. À thiết kế độc đáo cùng hiệu quả cao nên các bức tường di động chống lũ di động này đã trở nên nỗi tiếng khắp thé giới.
Hình 1, 1 Bức tường chống lũ ở Áo ngapore, mực nước biển dâng 59em, có thể gây ra sự suy giảm đáng kể của rừng ngập mặn, xói mon ba biển, mat đất Trong vài thập ky ưở lại đây, Chính phủ ingapore đã tiến hành mở diện tích quốc gia thong qua ác biện pháp in biển khá tồn kém. Kết quả là trên 20% diện th của đảo quốc này hiện nay là đất lần biển. Với dự báo mực nước biển dâng từ 0.5m, các vùng đắt Lin biễn lại đang trong nguy cơ bị đe dọa. Tại Indone tước biển dâng cùng với hiện tượng sat lở đất do khai thác.
nước ngầm quá mức sẽ làm đường bở biển của Indonesia dịch chuyển vào trong và gia tăng nguy cơ ngập lụt. Đến năm 2050, nếu mực nước biển dâng theo các kịch bản 0.25; 0:57 hoặc 1,0 cmvnam, điện tích ngập lạtở Bắc Jdarts tương ứng sẽ là 0, 45 hoặc 90 km? 'u mực nước biển dâng trung bình năm 2050 là 0,Sm và hiện tượng sat ley. ép tục, nhiều diện tích của Bắc Jakarta và Bekasi sẽ bị ngập lụt vĩnh viễn. Tại Philippines, mực nước biển dâng 30cm vào năm 2045, sẽ ảnh hưởng dé 2.000 ha đất và khoảng 500.
Mức ding 100cm vào năm 2080, sẽ gây ngập lụt cho hon 5.000 ha đất vùng ven vịnh Manila và làm ảnh hưởng đến 2,5 triệu người. Rui ro còn gia tăng nếu nước biển ding di cùng gi tang cường độ bão (Nguồn: Biển đổi khí hậu và các khu vục đồ thị ở Đông Nam A Thực trang và các vấn đ thích ứng) 1.2 Tại Việt Nam. 6 Việt Nam tình trạng ngập ting vin đang là mỗi quan tâm hàng ngày của các đô thị lớn, nhất là ở 2 đô thị loại đặc biệt là Tp, Hỗ Chí Minh và Hà Nội. Hi tượng ngập {ing đô thị tại các thành phổ lớn vẫn diễn ra thưởng xuyên.
Nguyên nhân một phẩn được chỉ ra là do nhiễu ao, hỗ, các khu đắt ting (đất ngập nước) bị sa lắp. cổng hóa nhiều dòng sông, kênh, muong, rạch thoát nước để xây dựng đồ thị, Bên cạnh đó, hiện tượng này còn do BĐKH gây ra. Nhìn chung cơ sở hạ ting thoát nước đô thị vẫn còn rất nhỏ bé về quy mô lạc hậu về công nghệ và đang xuống cp do xây dựng đã lầu từ 50 đến 100 năm, Tổng chiều dài cổng ngằm của 84 thành phổ, thị xã mới chỉ có hơn 1.000km và tập trung ở một số thành phố lớn. Chỉ số phục vụ tinh theo chiễu dai đường cống cho một người dan đô thị còn thấp chỉ từ (0,04+0,06)m, riêng Tp.
Hà Nội, HB Chí Minh, Hải Phòng mới chỉ dat 02m. VỀ chit lượng các tuyển cổng. theo đánh giá của cúc Công ty thoát nước tại các địa phương có trên 30% ác tuyển ng đã bị hư hông nghiêm trong cần sửa chữa, 40% các tuy én đã xuống cấp, chỉ còn 30% vừa mới được xây dụng là còn tốt Các kênh rạch thoát nước chủ yếu là sử dụng kênh rạch tự nhiên, nên và thành bằng đất do vậy thường không ôn định. Các cổng, ông thoát nước được xây dựng bằng bê ông hoặc xây gạch, it diện cổng thường có hình trồn, hình chữ phật, có một số tuyến cổng hình trứng.
Ngoài ra tại các đô thị tồn tại nhiều mương. day nắp dan hoặc mương hở, các mương nảy thường có kích thước nhỏ, có nhiệm vụ thu nước mưa và nước bin ở cúc cụm dân cư. Các hồ ga thú nước mưa và cúc giếng thăm trên mạng lưới bị hư hỏng nhiều ít được quan tâm sửa chữa gây khó khăn cho công tác quản lý. Theo báo cáo của cée công ty thoát nước và công ty mỗi tường đô thị tắ cả các thành phố, thị xã của cả nước đều bị ngập ứng cục bộ trong mùa mưa.
Có đô thị 60% đường phổ bị ngập ứng như Buôn Mé Thuột của Đắc Lắc. TP Hỗ Chí Minh (trên 100 điểm ngập), Hà Nội (rên 30 điểm), Dà Nẵng, Hải Phòng cũng có rất nhiều điểm bị ngập ng. Thôi gian ngập kéo dù từ 2 giờ đến 2 ngà „ độ ngập sâu lớnnỈ Im, Ngoài các điểm ngập do mưa, ại một số đô thị còn có tình trạng ngập cục bộ do nước thải sinh hoạt và công nghiệp (Ban Mê Thuột, Cà Mau). Ngập úng gây ra tình trạng ách tắc giao thông, nhiều cơ sở sản xuất dich vụ ngừng hoạt động, du lịch bị ngừng trẻ, hàng hoá không thé lưu thông.
Hàng năm thiệt hại do ngập sing theo tính oán sơ bộ lên tới hàng nghìn tỷ đồng (Nguồn: Báo cáo để lài khoa học trong tâm Đánh giáđiễn biển môi trường hai vùng phát iển kính tế phía Nam, Hà Nội 2008) Hiện tại, đô thị Việt Nam đang phải đối mặt với các vin đề về BDKH như bảo, lũ lụt và nước biển dâng (NBD) tác động trực tiếp đến phát triển hệ thống đô thị ven biển và sắc vũng đồng bing lớn, trên 40 tỉnh thuộc ĐBSCL, Đẳng bằng Sông Hồng. Duyên hai Miễn Trung, Đông Nam Bộ với khoảng 128 đô thị có nguy cơ ngập cao, 20 đô thị số nguy cơ ngập năng. BĐKHI gây mưa lớn, lũ qué, sat lỡ đất tá hệ thống đô thị của 31 tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên, miễn Trung và Đông Nam Bộ với khoảng 139 đô thị chịu ảnh hướng, 15 đô thị có khả năng chịu tác động mạnh. Biển đồi khí hậu hiện đang diễn ra hết sức phức tạp như đã ình bảy trong Báo cáo đánh giá lần thứ Si của Uy ban Liên chính phủ về Biển đổi Khí hậu (IPCC) [2].
Chính phủ Việt Nam đã ra Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 phê đuyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đỏi Khí hậu [3], tập tun đánh gi tinh hình BĐKH ở Việt Nam, iy dựng phương pháp đánh giá các biến số khí hậu à tình hình BĐKH mà cụ thể là nhiệt độ, lượng mưa, các thảm hoa tự. nhiên cùng các hiện tượng khí hậu cực đoan, đồng thời xây dựng các kịch bản BDKH và mực nước biển dâng cho gisi doan (20102100) cho từng khu vực của Việt Nam. Bộ Tài nguyên Môi trường công bổ kịch bản BDKH và nước biển da ig cho Việt Nam. cho thấy nguy cơ ngập các đô th là ắt lớn.
đặc biệt đ với khu vực đô thị ven biển 1.2 Tổng quan về các giải pháp thoát nước bin vững.1 Ting quan về các nghiên cứu giải pháp thoát nước bền vững trên thể giới.1 Giải pháp thoái nước bỀn vững ở một sé nước trên t © Australia giải pháp thoát nước bin vững được gọi với tên phương pháp tiếp cận Thiết ké d6 thị nhạy cảm vé nước (Water Sensitive Urban Design - WSUD). 6 các nước Châu Âu, khái niệm về Hệ thống thoát nước đồ thị bên vững (Sustainable Urban Drainage System ~ SUDS) được sử dụng với sự tập trung chủ yếu vào việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ các giá trị của tài nguyên nước, bảo tổn đa dạng sinh học và "bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên cho thể hệ tương lai. Tương tự, ở Mỹ và Canada phương pháp SUDS được biết đến với khái niệm Phát triển tác động thấp (Low Impact Development ~ LID) với cách tiếp cận khuyỂn khích sự tương tác của các quá tình tự nhiên với môi trường đồ thi nhằm bảo vệ và ti tạo lại hệ sinh th tong quản lý tà nguyên nước. Phương pháp LID trọng tâm vào việc bảo tổn và sử dụng các đặc điểm tự nhiên kết hợp với các hệ thông thủy văn quy mô nhỏ nhằm giảm thiểu các tác động.
tiêu cực của quá trình đô thị hóa. Phương pháp LID cũng tương tự như phương pháp Thực hành quán lý tốt wu (Best Management Practices - BMP) ở Mỹ và Phương pháp phát triển và thiết kế đồ thị tác động thấp (Low Impact Urban Design and Development ~ LIUDD) ở New Zealand. (Qiangian Zhou, 2014) ing với sự phittrién của giải pháp thoát nước bén ving, có rt nhiều các nghiên cứu đã được thực hiện trên phạm vi toàn th giới. Tại Đan Mạch, chương trình nghiên cứu: quy mô quốc gia đã được thực hiện bao gdm các nghiên cứu về Tài nguyên nước khu vực đô thị và Nghiên cứu 28G “ Black, Blue đ Green” nhằm tổng hợp hệ thông cơ sở ha ting đảm bảo phát triển bén ving tài nguyên nước đô thị.