Chương I, Luật Việc làm quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm” [17,tr. 6 Theo quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động được hiểu như sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc hiện vật cho công việc đó. - Làm những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả công bằng hiện vật. Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: - Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và các thành viên trong gia đình.
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hai điều kiện này có quan hệ chặt với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm quan niệm đó đã góp phần mở rộng quan niệm về việc làm, khi đa số lao động hiện thời chỉ muốn chen chân vào trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước. Về mặt khoa học, quan điểm của Bộ luật lao động đã nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm.
Khái niệm tạo việc làm cho người lao động Có thể hiểu tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường. Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình người lao động làm việc. Người lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập cho riêng họ mà còn tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội. Vì vậy, tạo việc làm không chỉ là nhu cầu chủ quan của người lao động mà còn là yếu tố khách quan của xã hội.
7 Số lao động được tạo việc làm phản ánh số lao động có việc làm tăng thêm trong năm, là chênh lệch giữa số lao động có việc làm ở kỳ báo cáo và số lao động có việc làm của kỳ trước [1, tr. Khái niệm quản lý Nhà nước về tạo việc làm Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”. Quản lý Nhà nước về tạo việc làm là sự thể hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực việc làm nhằm bảo vệ tốt nhất cho các chủ thể tham gia quan hệ lao động, việc làm. Nhà nước phải thực hiện bổn phận đảm bảo gìn giữ, bảo vệ, sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lao động và giải quyết việc làm.
Bởi lẽ, con người là yếu tố không thể thiếu để thực hiện các hoạt động lao động – hoạt động quan trọng nhất nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Nhà nước phải có trách nhiệm lớn nhất trong việc các hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó có việc sử dụng lao động trong các doanh nghiệp và các đơn vị sử dụng lao động khác. Về phương diện kinh tế - xã hội, quản lý lao động, việc làm của Nhà nước có vai trò đặc biệt trong việc quản lý nguồn nhân lực quốc gia, khắc phục những khía cạnh tiêu cực của lao động làm cho các quan hệ lao động, quá trình lao động trở nên có tổ chức và có hiệu quả hơn. Về phương diện pháp lý, Nhà nước là chủ thể có quyền lực pháp lý lớn nhất, có quyền ban hành và thực thi pháp luật, áp dụng các trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật.
Như vậy, hoạt động quản lý về việc làm của Nhà nước trước hết xuất phát từ vị trí, vai trò của Nhà nước trong xã hội, đó là thiết lập, củng cố và 8 duy trì trật tự xã hội trên thị trường lao động, đảm bảo việc bảo vệ liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, những người lao động trong xã hội, thông qua quản lý việc làm bằng pháp luật để có chính sách phát triển, phân bố nguồn lực, phát triển đa dạng các hình thức sử dụng lao động và giới thiệu việc làm thông qua hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về lao động các cấp; khuyến khích việc quản lý lao động dân chủ, công bằng, văn minh trong cơ quan, tổ chức và mọi biện pháp, kể cả việc trích thưởng từ lợi nhuận cơ quan, đơn vị, làm cho người lao động quan tâm đến hiệu quả hoạt động để đem lại hiệu quả cao trong công tác điều hành, quản lý. Tóm lại, quản lý nhà nước về việc làm là loại hình quản lý đặc biệt do Nhà nước tiến hành trên cơ sở nắm bắt mối quan hệ giữa dân số, lao động và việc làm, từ đó đưa ra những giải pháp và nội dung cũ thể nhằm giải quyết việc làm cho người lao động để công nhân được thực hiện quyền lao động của mình theo quy định pháp luật. Nội dung quản lý Nhà nước về tạo việc làm 1. Ban hành chính sách, quy hoạch, kế hoạch về tạo việc làm cho người lao động Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội.
Chính sách việc làm thực chất là một hệ thống các biện pháp có tác động mở rộng cơ hội để lực lượng lao động của toàn xã hội tiếp cận được việc làm. Ngoài ra chính sách việc làm còn bao gồm các giải pháp trợ giúp các loại đối tượng đặc biệt (cho người khuyết tật, đối tượng tệ nạn xã hội, người hồi hương.) có cơ hội và đều được làm việc. Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội nhằm giải quyết một vấn đề xã hội vừa cấp bách hiện nay vừa cơ bản lâu dài ở mỗi nước là đảm bảo việc làm, đời sống cho lao động toàn xã hội, đặc biệt là khu vực 9 nông thôn, nơi đang tồn tại tỷ người chưa có việc làm, thiếu việc làm khá cao. Cũng như chính sách xã hội khác, chính sách việc làm cũng rất đa dạng, phong phú, có thể phân loại như sau: - Nhóm chính sách chung có quan hệ và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lao động toàn xã hội: Chính sách về vốn, chính sách đất đai, chính sách thuế.
- Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, hình thức và vùng có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường (chính sách phát triển kinh tế hộ, chính sách đổi mới xây dựng vùng kinh tế mới, chính sách khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống, chính sách di dân tự do và hành nghề theo pháp luật, chính sách gia công xuất khẩu.) Mặt khác, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường tình trạng thất nghiệp là điều khó tránh khỏi, đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) thì khả năng tìm việc làm đối với người lao động có trình độ thấp lại càng khó. Để hạn chế thất nghiệp một mặt phải tạo chỗ làm việc mới; mặt khác phải tránh cho người lao động đang làm việc lâm vào thất nghiệp. Ngoài ra, phải có hệ thống bảo hiểm cho người lao động khi họ thất nghiệp. Trong chính sách giải quyết việc làm, một nguyên tắc cơ bản cần phải được chú ý, đó là đảm bảo cho mọi người được tiếp cận với cơ hội làm việc, trên cơ sở Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có cơ hội chủ động tìm kiếm việc làm, chống tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, tránh thực hiện chủ nghĩa bình quân, chia đều việc làm với thu nhập thấp.
Đồng thời cũng chống việc coi nhẹ trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khiến cho tình trạng thất nghiệp trở thành vấn đề xã hội gay cấn. Cần gắn tiêu chuẩn về mức thu hút lao động của doanh nghiệp trong chính sách khuyến khích hoặc hỗ trợ doanh nghiệp. 10 Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, song phương thức và biện pháp tạo việc làm lại mang nội dung kinh tế, đồng thời liên quan đến những vẫn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ. Vì thế bất cứ chính sách kinh tế nào của Nhà nước cũng đều có ảnh hưởng và tác động đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động.
Trong nội dung quản lí nhà nước về việc làm được quy định chi tiết tại Điều 6 Luật Việc làm năm 2013. Trước hết nhà nước nắm bắt cung cầu và sự biến động cung cầu về lao động làm cơ sở quyết định chính sách quốc gia, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, phân bổ và sử dụng toàn xã hội. Trong khi chúng ta dư thừa sức lao động ở nông thôn thì ở lĩnh vực phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung và cao cấp lại thiếu hụt lao động trầm trọng. Điều này dẫn đến việc Nhà nước phải điều tiết về quy luật cung cầu nguồn lao động trong xã hội hiện nay nhằm đảm bảo việc làm cho người lao động không rơi vào tình trạng thất nghiệp, mặt khác một số ngành công nghiệp trọng điểm không rơi vào tình trạng thiếu lao động.
Bên cạnh đó, việc ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật về lao động cũng là một trong những nội dung quan trọng trong nội dung quản lí nhà nước về việc làm. Cụ thể hiện nay Nhà nước ban hành một số văn bản pháp luật như: Bộ luật lao động, Luật Việc làm, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, Luật dạy nghề, Nghị định số 39/NĐ – CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về việc làm, Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm.