phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 3 chƣơng: 13 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của tạo việc làm cho lao động khu vực phi chính thức Chƣơng 2: Phân tích thực trạng tạo việc làm cho lao động khu vực phi chính thức trên địa bàn các quận nội thành Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy tạo việc làm cho lao động khu vực phi chính thức trên địa bàn các quận nội thành Hà Nội đến năm 2020 14 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Việc làm “Theo điều 13, Chƣơng II (Việc làm) Bộ luật Lao động Việt Nam: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [24, tr. Khái niệm này cũng đƣợc vận dụng trong các cuộc điều tra mẫu về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và đƣợc cụ thể hóa thành ba dạng hoạt động sau:” - “Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lƣơng bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó.” - “Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm: Sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên đƣợc quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.” - “Làm công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức bằng tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó.
Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong hộ có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.” “Theo khái niệm trên, một hoạt động đƣợc coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện:” “Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm.” “Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi và ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trƣờng lao động ở Việt Nam trong quá trình 15 phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.
Ngƣời lao động hợp pháp ngày nay đƣợc đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do tìm kiếm việc làm, hoặc tạo ra việc làm cho ngƣời khác trong khuôn khổ pháp luật, không còn bị phân biệt đối xử cho dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nƣớc [28, tr.” “Hai tiêu thức trên có mối quan hệ chặt chẽ nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động đƣợc thừa nhân là việc làm. Nếu hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhƣng vi phạm pháp luật nhƣ trộm cắp, buôn bán ma túy, mại dâm…không thể đƣợc công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhƣng không tạo ra thu nhập cũng không đƣợc thừa nhận là việc làm, chẳng hạn nhƣ nội trợ trong gia đình. Nhƣng nếu ngƣời đó thực hiện các công việc nội trợ cho gia đình khác đƣợc trả tiền công (giúp việc gia đình) thì hoạt động đó đƣợc thừa nhận là việc làm [29, tr.” “Trạng thái phù hợp đƣợc thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu (C) nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu…và chi phí về sức lao động (V).” Có thể biểu diễn mối quan hệ tỷ lệ này bằng phƣơng trình sau: Việc làm = C/V “Quan hệ tỷ lệ biểu hiện sự kết hợp giữa C và V phải phù hợp với trình độ công nghệ của sản xuất.
Khi trình độ công nghệ kỹ thuật thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo, có thể công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều lao động. Cụ thể, nhƣ trong điều kiện sản xuất thủ công thì một đơn vị chi phí ban đầu về tƣ liệu sản xuất, vốn có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động. Còn trong điều kiện sản xuất chuyên môn hóa thì chi phí về vốn, thiết bị, công nghệ rất cao nhƣng đòi hỏi sức lao động với tỷ lệ rất thấp (công nghệ sử dụng nhiều vốn). Vì thế, tùy từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phƣơng án phù hợp để có thể tạo việc làm cho ngƣời lao động.” Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”.“Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tƣ liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó [29, tr.” 16 Trong công tác thống kê, điều tra khảo sát về lao động việc làm ở Việt Nam, các tiêu thức xác định việc làm cụ thể hơn.
Ba loại việc làm đƣợc pháp luật của Việt Nam công nhận, bao gồm: “Loại 1- Làm công: Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lƣơng bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó. Ngƣời làm loại công việc này mang sức lao động (chân tay hoặc trí óc) của mình để đổi lấy tiền công, tiền lƣơng, không tự quyết định đƣợc những vấn đề liên quan đến công việc của mình làm nhƣ mức lƣơng, số giờ làm việc, thời gian nghỉ phép…” “Loại 2- Tự làm: Tự làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên đất do chính thành viên đó sở hữu, quản lý hoặc có quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chính thành viên đó làm chủ hay quản lý toàn bộ hoặc một phần; thành viên đó chi toàn bộ chi phí và thu toàn bộ lợi nhuận trong loại công việc này.” “Loại 3- Tự làm: Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức bằng tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó. Các công việc bao gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong hộ làm chủ hoặc quản lý [17]. Tạo việc làm cho người lao động Về mặt lý thuyết, “Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động đem lại thu nhập cho người lao động” [29, tr.
“Để tạo việc làm đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan tổ chức cũng nhƣ cá nhân ngƣời lao động, tạo thành cơ chế tạo việc làm, trong đó cơ chế ba bên với sự tham gia của ngƣời lao động, Nhà nƣớc và ngƣời sử dụng lao động.” “Về phía ngƣời lao động, muốn tìm đƣợc việc làm phù hợp, có thu nhập cao thì phải có kế hoạch thực hiện và đầu tƣ cho phát triển sức lao động của mình, có 17 nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, từ các tổ chức xã hội,… để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định - điều kiện cần thiết cho ngƣời lao động tham gia vào thị trƣờng lao động.” “Về phía Nhà nƣớc, Nhà nƣớc tạo hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính sách liên quan trực tiếp đến ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, tạo môi trƣờng pháp lý kết hợp sức lao động với tƣ liệu sản xuất là bộ phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho ngƣời lao động.” “Về phía ngƣời sử dụng lao động gồm các doanh nghiệp trong nƣớc thuộc các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trƣờng đầu vào và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ làm việc mà còn phải duy trì và phát triển chỗ làm việc cho ngƣời lao động. Đó cũng chính là duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.” Để cho ngƣời có sức lao động muốn lao động có thể tìm đƣợc việc làm phù hợp với năng lực và sở thích của họ, đồng thời ngƣời sử dụng lao động có thể thuê đƣợc số lƣợng, chất lƣợng lao động phù hợp với yêu cầu công việc và mục tiêu của sản xuất kinh doanh thì việc phát triển hệ thống thông tin thị trƣờng lao động có vai trò quan trọng. Việc này chẳng những giúp cho ngƣời sử dụng lao động duy trì và phát triển doanh nghiệp mà còn tạo cho ngƣời lao động có công ăn việc làm, có thu nhập, nâng cao chất lƣợng cuộc sống, góp phần phát triển xã hội, ổn định, giảm các tệ nạn xã hội và xóa đói giảm nghèo. “Tóm lại, cơ chế tạo việc làm cho ngƣời lao động đòi hỏi sự tham gia tích cực của cả 3 phía: Nhà nƣớc, ngƣời sử dụng lao động và của chính bản thân những ngƣời lao động sao cho cơ hội việc làm và mong muốn nguyện vọng đƣợc làm việc của ngƣời lao động gặp nhau trên thị trƣờng lao động đúng lúc, đúng chỗ.
Khu vực phi chính thức Khu vực phi chính thức đã tồn tại rất lâu trong các nền kinh tế, đặc biệt là trong các nền kinh tế đang phát triển. Theo dòng lịch sử, khu vực phi chính thức có các các tiếp cận nổi bật sau đây: Theo cách tiếp cận nhị nguyên (Dualism), các nhà nghiên cứu chia nền kinh tế ra làm hai khu vực: chính thức và phi chính thức [32]. Đặc trƣng của khu vực phi 18 chính thức là: thu nhập thấp, tự hành nghề, không đƣợc sự bảo hộ của Nhà nƣớc. Cũng theo cách tiếp cận này, khái niệm khu vực phi chính thức của ILO chủ yếu dựa vào đặc trƣng của các doanh nghiệp đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận hơn cả.
Theo ILO, khác với khu vực chính thức, khu vực phi chính thức có các đặc trƣng sau: - Dễ gia nhập thị trƣờng - Phụ thuộc vào nguồn lực địa phƣơng - Đơn vị sản xuất là gia đình - Quy mô hoạt động nhỏ - Công nghệ sử dụng nhiều lao động - Tay nghề có đƣợc không qua đào tạo chính quy - Thị trƣờng này không có sự kiểm soát của Nhà nƣớc.