phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo thì nội dung chính đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận cơ bản về công tác tạo động lực cho ngƣời lao động trong Doanh nghiệp. 4 Chƣơng II: Phân tích thực trạng tạo động lực lao động tại Công ty cổ phần Du lịch Nam Định. Chƣơng III: Các giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực lao động tại Công ty cổ phần Du lịch Nam Định. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm người lao động: “Ngƣời lao động là ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, đƣợc trả lƣơng và chịu sự quản lý, điều hành của ngƣời sử dụng lao động.” theo Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2012. Theo nghĩa này, ngƣời lao động là ngƣời làm công và đƣợc trả lƣơng. Công việc của ngƣời lao động là theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
thông qua kết quả lao động nhƣ sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần cung cấp mà ngƣời lao động đƣợc hƣởng lƣơng từ ngƣời, tổ chức sử dụng lao động. Ở nghĩa hẹp hơn, ngƣời lao động là ngƣời làm việc mang tính chất phổ thông thƣờng là trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ… (cách hiểu này ảnh hƣởng từ quan niệm cũ: Phân biệt ngƣời lao động và ngƣời trí thức) Theo Bộ luật lao động của nƣớc ta: Ngƣời lao động ít nhất phải đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và phải có giao kết hợp đồng lao động. Luật lao động cũng quy định rõ ràng, cụ thể và các quyền và nghĩa vụ của ngƣời lao động khi tham gia lao động, quy định về hợp đồng lao động, xử lý tranh chấp hợp đồng lao động, các chế độ chính sách đãi ngộ, phúc lợi xã hội bắc buộc. Từ góc độ kinh tế học, ngƣời lao động là ngƣời trực tiếp cung cấp sức lao động – một yếu tố sản xuất mang tình ngƣời và cũng là một dạng dịch vụ/ hàng hóa cơ bản của nền kinh tế.
Những ngƣời đang lao động là những ngƣời có cam kết lao động đối với cá nhân hoặc tổ chức sử dụng lao động. Nhƣ vậy, để hiểu rõ về ngƣời lao động chúng ta cần xem xét các yếu tố gắn liền với ngƣời lao động nhƣ: sự chuẩn bị năng lực lao động, cam kết và thực thi cam kết lao động (bao gồm tiếp nhận yêu cầu lao động, phƣơng pháp và phƣơng tiện lao động, giá thành lao động, đãi ngộ lao động, thái độ lao động, động lực lao động) kết 6 quả là chất lƣợng lao động, sự hài lòng và không hài lòng của các bên tham gia ký kết hợp đồng lao động. Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực: Các doanh nghiệp đều có các nguồn lực, bao gồm tiền bạc, vật chất, thiết bị và con ngƣời cần thiết để tạo ra hàng hóa và dịch vụ mà Doanh nghiệp đƣa ra thị trƣờng. Hầu hết các Doanh nghiệp đều xây dựng các thủ tục và quy trình về cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị nhằm đảm bảo việc cung cấp đầy đủ chúng khi cần thiết.
Tƣơng tự nhƣ vậy, các Doanh nghiệp cần phải quan tâm đến quy trình quản lý con ngƣời – một nguồn lực quan trọng của họ. “Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các lý luận, các phƣơng pháp khoa học để quản lý con ngƣời trong xã hội nói chung và trong các tổ chức nói riêng.” theo giáo trình “Quản lý nguồn nhân lực” - ts. Nguyễn Danh Nguyên. Do đó, ngƣời quản lý phải biết vận dụng kiến thức, phƣơng pháp khoa học phù hợp với từng ngƣời trong từng trƣờng hợp cụ thể.
Trong giai đoạn hiện nay, quản trị nguồn nhân lực cần đƣợc nhìn nhận với một nhận thức mới, khoa học, phải coi con ngƣời hay nguồn nhân lực là một chiến lƣợc quan trong trong quán trình hoạch định chiến lƣợc hoạt động của Doanh nghiệp, thì Doanh nghiệp đó mới thành công và phát triển bền vững trong cơ chế quản lý thị trƣờng nhƣ hiện nay. Quản trị nguồn nhân lực bao gồm tất cả những quyết định và hoạt động quản lý có ảnh hƣởng đến mối quan hệ giữa Doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên của Doanh nghiệp bao gồm: - Chức năng hoạch định. - Chức năng tổ chức. - Chức năng lãnh đạo.
- Chức năng kiểm tra. Mục tiêu chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực là nhằm đảm bảo đủ số lƣợng ngƣời lao động với mức trình độ và kỹ năng phù hợp, bố trí họ vào đúng công việc, và vào đúng thời điểm để đạt đƣợc các mục tiêu của Doanh nghiệp. Nhƣ vậy, một câu hỏi đặt ra: ai phụ trách quản trị nhân sự trong quản lý Doanh nghiệp? rõ ràng 7 câu trả lời sẽ là: Mọi nhà quản lý trong Doanh nghiệp. Quản trị nguồn nhân lực là đảm bảo có đúng ngƣời với kỹ năng và trình độ phù hợp, vào đúng công việc và vào đúng thời điểm thích hợp để thực hiện mục tiêu của Công ty.
Một Doanh nghiệp dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên vật tƣ phong phú, hệ thống máy móc thiết bị hiện đại đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích, nếu không biết hoặc quản trị kém nguồn tài nguyên nhân sự. Chính cung cách quản trị tài nguyên nhân sự này tạo ra bộ mặt văn hoá của tổ chức, tạo ra bầu không khí có sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau hay lúc nào cũng căng thẳng bất ổn định. Các nhà quản trị Harold, Koontz và Cyril nói: “Khi hành động theo khả năng quản trị của mình, các Chủ tịch, Trƣởng phòng, Đốc công, Giám thị, Trƣởng khoa, Giám mục và những ngƣời đứng đầu các cơ quan của Chính phủ đều làm cùng một việc. Với tƣ cách nhà quản trị tất cả những ngƣời này phần nào đều tiến hành theo công việc đƣợc hoàn thành cùng với con ngƣời và thông qua con ngƣời.
Với tƣ cách nhà quản trị, mỗi ngƣời trong số họ lúc này hay lúc khác đều phải đƣợc thực hiện những nhiệm vụ đặc trƣng của những nhà quản trị”. Thậm chí một quản trị gia đƣợc việc cũng sử dụng các chức năng quản trị này, mặc dù trong nhiều trƣờng hợp các chức năng này cũng đƣợc sử dụng theo trực giác. Vì vậy, quản trị nhân sự chính là việc thực hiện chức năng tổ chức của quản trị căn bản, bao gồm các nội dung cơ bản sau đây: + Phân tích công việc. + Tuyển dụng nhân viên.
+ Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên. Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua việc sử dụng hệ thống kích thích vật chất và tinh thần đối với nhân viên. Nhƣ vậy quản trị nguồn nhân sự gắn liền với việc tổ chức, bất kỳ Doanh nghiệp nào hình thành và hoạt động thì đều phải có bộ phận tổ chức. Khái niệm về động lực: Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực: - Động lực là sự sẵn sàng nỗ lực làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức 8 và thoả mãn đƣợc nhu cầu của bản thân ngƣời lao động.
- Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. - Động lực là tất cả những gì thôi thúc con ngƣời, thúc đẩy con ngƣời hăng hái làm việc. - Động lực là những yếu tố thúc đẩy con ngƣời hoạt động một cách tích cực có năng suất, chất lƣợng, hiệu quả, có khả năng thích nghi, sáng tạo cao. - Động lực là lý do hành động của con ngƣời, là mục đích chủ quan mà con ngƣời muốn đạt đƣợc thông qua quá trình hoạt động của mình.
- Động lực là sự khao khát và tự nguyện của con ngƣời nhằm tăng cƣờng mọi nỗ lực để đạt đƣợc một mục tiêu hoặc kết quả cụ thể nào đó. Từ những định nghĩa trên có thể hiểu động lực là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con ngƣời và thúc đẩy con ngƣời hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lƣợng, hiệu quả; có khả nang thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ. Động lực có thể ở dạng có ý thức (khi trả lời đƣợc câu hỏi tại sao con ngƣời lại làm nhƣ vậy) hay vô thức (do bản năng, tính cách). Động lực là sự thôi thúc khiến ngƣời ta hành động vì thế nó có một ảnh hƣởng rất mạnh mẽ, ảnh hƣởng này có thể tốt hoặc xấu.
Một yếu tố tạo động lực sẽ khơi dậy và định hƣớng hành động. Điều này có nghĩa là khi một ngƣời đƣợc tạo động lực, họ sẽ bị thôi thúc và hành động theo một cách thức nào đó để đạt đƣợc mục đích. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của ngƣời lao động, phƣơng tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. Trong trƣờng hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn.
Khái niệm về tạo động lực: Đây là vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị của mỗi Doanh nghiệp. Các nhà quản trị trong tổ chức muốn xây dựng công ty, xí nghiệp mình vững mạnh thì phải dùng các 9 biện pháp kích thích ngƣời lao động làm cho họ hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc. Vậy tạo động lực cho ngƣời lao động đƣợc hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào ngƣời lao động nhằm tạo ra động cơ cho ngƣời lao động, ví dụ nhƣ: Thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của ngƣời lao động vừa thoả mãn đƣợc mục đích của Doanh nghiệp, sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần. Vậy vấn đề quan trọng của động lực đó là mục tiêu.
Nhƣng để đề ra đƣợc những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của ngƣời lao động, tạo cho ngƣời lao động sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết đƣợc mục đích hƣớng tới của ngƣời lao động sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của ngƣời lao động hoàn toàn có thể thực hiện đƣợc thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ.