Tiểu luận xây dựng các giải pháp tạo động cơ học tiếng anh tích cực theo chuẩn quốc tế toeic cho sinh viên không chuyên ngữ tại trường đại học nha trang

Tiểu luận đề xuất giải pháp tạo động cơ học tiếng Anh tích cực cho sinh viên không chuyên ngữ tại Đại học Nha Trang theo chuẩn TOEIC.

Trường đại học

Trường Đại Học Nha Trang

Chuyên ngành

Ngoại Ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học

2011

88
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về động cơ học tiếng Anh

Động cơ học tiếng Anh là yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công trong việc học ngoại ngữ. Đối với sinh viên không chuyên tại Đại học Nha Trang, việc tạo ra động cơ học tiếng Anh tích cực là cần thiết để nâng cao chất lượng học tập. Nghiên cứu cho thấy rằng động cơ học tập có thể được chia thành hai loại chính: động cơ nội vi và động cơ ngoại vi. Động cơ nội vi thường xuất phát từ sự đam mê và mong muốn cá nhân, trong khi động cơ ngoại vi liên quan đến các yếu tố bên ngoài như yêu cầu công việc hay kỳ vọng từ gia đình. Việc hiểu rõ các loại động cơ này sẽ giúp giáo viên và nhà trường có những phương pháp giảng dạy phù hợp hơn.

1.1. Động cơ nội vi và ngoại vi

Động cơ nội vi là động lực xuất phát từ bên trong người học, như sự yêu thích và đam mê với tiếng Anh. Ngược lại, động cơ ngoại vi thường liên quan đến các yếu tố bên ngoài như áp lực từ gia đình hoặc yêu cầu công việc. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên có động cơ nội vi cao thường có kết quả học tập tốt hơn. Điều này cho thấy rằng việc khuyến khích sinh viên tìm thấy niềm vui trong việc học tiếng Anh là rất quan trọng. Các phương pháp giảng dạy như sử dụng trò chơi, hoạt động nhóm có thể giúp tạo ra môi trường học tập tích cực, từ đó nâng cao động cơ học tập của sinh viên.

II. Thực trạng học tiếng Anh tại Đại học Nha Trang

Mặc dù sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của việc học tiếng Anh, thực tế cho thấy nhiều sinh viên không tham gia vào các kỳ thi TOEIC. Theo khảo sát, 78% sinh viên chưa từng tham gia kỳ thi này. Điều này cho thấy có một khoảng cách lớn giữa nhận thức và hành động. Nhiều sinh viên cho biết họ không có thời gian học hoặc không hứng thú với cách dạy hiện tại. Việc thiếu động cơ học tập tích cực dẫn đến kết quả học tập không như mong đợi. Để cải thiện tình hình này, cần có những giải pháp cụ thể nhằm khuyến khích sinh viên tham gia học tập một cách chủ động hơn.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng học tiếng Anh không hiệu quả tại Đại học Nha Trang. Một trong những nguyên nhân chính là việc sinh viên không có nền tảng vững chắc từ trước. Hơn nữa, phương pháp giảng dạy hiện tại chưa thực sự thu hút sinh viên. Nhiều sinh viên cho rằng họ không có thời gian để học, trong khi một số khác cảm thấy áp lực từ việc học. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự thay đổi trong phương pháp giảng dạy, tạo ra môi trường học tập thân thiện và khuyến khích sinh viên tham gia tích cực hơn.

III. Giải pháp tạo động cơ học tiếng Anh tích cực

Để tạo ra động cơ học tiếng Anh tích cực cho sinh viên không chuyên, cần áp dụng một số giải pháp cụ thể. Một trong những giải pháp hiệu quả là sử dụng phương pháp học theo nhóm và trò chơi trong giảng dạy. Những phương pháp này không chỉ giúp sinh viên cảm thấy thoải mái hơn mà còn tạo cơ hội cho họ giao tiếp và thực hành tiếng Anh một cách tự nhiên. Ngoài ra, việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa liên quan đến tiếng Anh cũng có thể giúp sinh viên nâng cao động lực học tập.

3.1. Phương pháp học theo nhóm

Phương pháp học theo nhóm đã được chứng minh là một trong những cách hiệu quả để nâng cao động cơ học tiếng Anh. Khi học theo nhóm, sinh viên có thể trao đổi ý kiến, hỗ trợ lẫn nhau và cùng nhau giải quyết các vấn đề trong học tập. Điều này không chỉ giúp họ cải thiện kỹ năng ngôn ngữ mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực. Các nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên tham gia vào các hoạt động nhóm thường có kết quả học tập tốt hơn so với những sinh viên học một mình.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: THÁI ĐỘ VÀ THỰC TRẠNG CỦA SV KHÓA 52 ĐỐI VỚI VIỆC HỌC TIẾNG ANH THEO CHUẨN TOEIC. Giới thiệu chung về TOEIC 1. TOEIC là gì? TOEIC, viết tắt của Test of English for International Communication, là một chứng chỉ TA quốc tế về giao tiếp dành cho người đi làm không phải là người sử dụng TA như tiếng mẹ đẻ. Mục tiêu của người học TA đó là làm sao để có thể sử dụng TA một cách hiệu quả trong môi trường làm việc hàng ngày, từ những tình huống giao tiếp cơ bản, đơn giản đến những tình huống phức tạp và chuyên môn hơn!.

Hiện nay, phần lớn các công ty đều sử dụng bài thi TOEIC như một công cụ để đánh giá khả năng sử dụng TA của cán bộ nhân viên và là tiêu chuẩn để tuyển dụng ứng viên. Vì vậy, việc học TA theo chương trình TOEIC và việc thi chứng chỉ TOEIC đang rất được quan tâm. Cấu trúc bài thi TOEIC TOEIC là bài thi trắc nghiệm được tiến hành trong 2 giờ, gồm 200 câu hỏi chia thành hai phần như sau: Thí sinh sẽ nghe các câu miêu tả, câu hỏi, hội thoại và đoạn thông tin bằng TA, sau đó lựa chọn câu trả lời dựa trên những nội dung đã nghe.  Phần nghe hiểu: Đánh giá trình độ nghe hiểu ngôn ngữ nói TA, bao gồm 100 câu hỏi với 4 phần được thực hiện qua băng casset hoặc đĩa CD trong thời gian 45phút  Phần đọc hiểu: Đánh giá trình độ hiểu ngôn ngữ viết TA, bao gồm 100 câu hỏi với 4 phần được thực hiện trong thời gian 75 phút.

Thí sinh sẽ đọc các thông tin trong đề thi và lựa chọn câu trả lời dựa vào nội dung đã đọc 6 Nghe hiểu 100 câu Hình ảnh 10 câu Hỏi và Trả lời 30 câu Hội thoại 30 câu (10 đoạn hội thoại, mỗi đoạn có 3 câu hỏi tương ứng) Đoạn thông tin ngắn 30 câu (10 đoạn thông tin, mỗi đoạn có 3 câu hỏi tương ứng) Đọc hiểu 100 câu Hoàn thành câu 40 câu Hoàn thành đoạn văn 12 câu Đoạn đơn 28 câu (7-10 đoạn văn, mỗi đoạn có 2-5 câu hỏi) Đoạn kép 20 câu (4 đoạn kép, mỗi đoạn có 5 câu hỏi) II. Thái độ học tập Theo khảo sát gần 500 SV khóa 52 tại một số lớp thuộc các khoa: Kinh Tế, Chế Biến, Kế Toán Tài Chính và Cơ Khí – Trường ĐHNT cho thấy, đa số SV đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc học TA đối với bản thân. Cụ thể khi đặt ra câu hỏi về vai trò của TA đối với bản thân của SV và nhận được kết quả như sau: trong số 498 SV được khảo sát thì có 289 SV (58%) cho rằng TA có vai trò cực kỳ quan trọng, xem là ưu tiên hàng đầu và chỉ có 7 SV ( 4,5%) cho rằng TA không cần thiết phải học. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì đa phần SV đã nhận thức rõ TA là một công cụ không thể thiếu sau khi ra trường, giúp nâng cao cơ hội nghề nghiệp và thu nhập trong tương lai.

Chính vì vậy mà có đến 283 trên tổng số 496 SV ( 57%) khi được điều tra về động cơ học TA trả lời rằng học TA là để tìm kiếm được việc làm tốt hơn sau khi ra trường. 7 Biểu đồ 1: Động cơ học Ghi chú: A: Vì bị bắt buộc học B: Tìm được việc tốt C: Vì yêu thích D: Ý kiến khác Biểu đồ trên còn cho thấy khoảng 20% SV được phỏng vấn chọn “vì bị bắt buộc”. Điều đáng chú ý là chỉ trên 10% chọn lý do “ vì yêu thích” và dưới 5% chọn ý kiến khác như “để xem phim, nghe nhạc” v.v Kết quả trên cũng hoàn toàn đồng nhất với cảm nhận của SV đối với việc học TA. Khi đưa ra câu hỏi thăm dò ý kiến của SV về cảm nhận của họ đối với môn TA chúng tôi cũng nhận được kết quả từ phía SV như sau: Trong số 10% ít ỏi SV học TA vì yêu thích môn học này nhưng lại không dành nhiều thời gian cho môn học (53%), chỉ có số ít ( 8%) thực sự yêu thích môn học này và có đầu tư thời gian cho việc học, 24% số SV được hỏi xem TA cũng giống như các môn học khác, không có gì khác biệt và có tới 15% cho biết họ cảm thấy sợ học TA và cho rằng TA là môn khó so với các môn học khác.

Nhìn chung đa số SV có thái độ tích cực đối với môn TA và nhận rõ tầm quan trọng của NN này trong quá trình học tập và làm việc trong tương lai. Điều đó chứng tỏ rằng họ có ý muốn học nghiêm túc và có nhu cầu cao trong việc nắm bắt tri thức trên thế giới thông qua một ngôn ngữ của toàn cầu như 8 TA. Tuy nhiên giữa thái độ tích cực đối với môn học và việc học môn học đó có sự khác biệt rõ rệt vì vậy việc học TA như mắc phải rào cản. Điều này thể hiện qua kết quả nghiên cứu về thực trạng việc học TA dưới đây.

Thực trạng Tuy nhận thức được tầm quan trọng của môn học TA nhưng thực tế điều tra lại chỉ ra những tình trạng đáng báo động. Phần lớn số SV được hỏi trong cuộc khảo sát chưa tham gia vào một kì thi TOEIC nào (78%) và cũng như tham gia một lớp luyện thi TOEIC (77%) nào trước đó. Như vậy giữa thái độ với môn học và các hành động thiết thực để hiện thực hóa các thái độ đó vẫn còn một khoảng cách khá xa. Nhìn chung thái độ của SV khóa 52 đối với việc học TA là khả quan, nhưng thực tế qua kết quả điều tra cho thấy khả năng sử dụng TA của SV trường ĐHNT nói chung và SV khóa 52 nói riêng vẫn còn thấp.

Hơn một nửa số người được hỏi (51%) cho biết đã học TA trong khoảng thời gian hơn 7 năm, và một tỉ lệ khá lớn (34%) đã học được từ 5 tới 7 năm, số còn lại đã trải qua từ 3 tới 5 năm (9%) và chỉ số ít dưới 3 năm (6%) học TA cho tới thời điểm nghiên cứu. Số thời gian họ đã học TA thật không nhỏ mà kết quả đạt được rất mâu thuẫn. Phần đông sinh viên (đến 51%) chọn câu trả lời dành ít thời lượng học TA nhất - dưới 30 phút mỗi ngày- trong bảng câu hỏi về Thời gian mỗi ngày dành cho việc học TA. Chính vì vậy mà khả năng TA của sinh viên thật sự không khả quan lắm.

Biểu đồ số liệu dưới đây cho thấy kết quả SV tự đánh giá về khả năng sử dụng TA của mình: 9 Ghi chú: A: Rất tốt, rất tự tin B: Tạm ổn, nắm vững kiến thức C: Không tốt lắm D: Kém, cần học lại Biểu đồ 2: Khả năng sử dụng TA Biểu đồ trên cho thấy rất đông SV - 223 trên tổng số 495 SV – 45% được khảo sát cho rằng khả năng sử dụng TA của bản thân là không tốt lắm, có tới 121(26%) SV cho rằng họ rất kém đến mức hầu như không biết gì và cần phải học lại kiến thức căn bản. Chỉ có 23 SV chiếm 5% trên tổng số được hỏi tự tin vào khả năng TA của mình khi giao tiếp với người bản ngữ hay những người biết nói TA. Việc mất căn bản từ cấp dưới cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến SV gặp nhiều khó khăn khi học TA theo chuẩn TOEIC ở đại học, ngoài ra việc cách dạy của GV không gây hứng thú cho SV, hay việc SV không có cách học đúng đắn mặc dù rất muốn học tốt TA cũng là những khó khăn mà SV gặp phải trong quá trình học TA theo chuẩn TOEIC tại trường ĐHNT. Biểu đồ sau giúp nêu rõ hơn nguyên nhân tại sao SV dù biết rõ tầm quan trọng của TA nhưng vẫn chưa đạt được trình độ TA như họ mong muốn.

10 Ghi chú: A: Mất căn bản B: Không có thời gian học C: Không hứng thú với cách dạy học hiện tại D: Ý kiến khác Biểu đồ 3: Nguyên nhân học TA kém Một trong những khó khăn mà hầu hết SV gặp phải khi và chạm với một bài thi TOEIC là kỹ năng Nghe. Trong kết quả điều tra, khảo sát có 491 SV tham gia trả lời câu hỏi thì 271 (57%) SV cho rằng trong những kỹ năng xuất hiện trong một đề thi TA theo chuẩn TOEIC thì kỹ năng nghe là khó nhất. Những khó khăn trên cũng dễ hiểu khi trong suốt quá trình học TA từ thời THCS cho đến THPT, học sinh chỉ được học theo cách đọc - viết, hầu như không được học nghe, nói nhiều. Việc đó khiến SV lúng túng khi bước chân vào cổng trường đại học với cách dạy mới và yêu cầu khác so với cấp dưới.

Nếu ở những cấp dưới SV học với mục đích đạt được kết quả cao trong những kỳ thi mang hình thức nghiêng về đọc hiểu và ngữ pháp nhiều hơn, khi lên đại học SV phải học nghe và nói để có thể giao tiếp được và sử dụng được TA sau khi ra trường. Đặc biệt trong kỳ thi TA quốc tế theo chuẩn TOEIC hay mô phỏng theo chuẩn TOEIC cũng bao gồm phần thi nghe – là một phần khó đối với SV Việt Nam nói chung và SV khóa 52 trường ĐHNT nói riêng, điều này là một khó khăn đối với SV để đạt được đủ điều kiện ra trường như trường ĐHNT đang áp dụng hiện nay. Khi được hỏi về điều kiện ra trường theo chuẩn TOEIC hiện nay tại trường ĐHNT (TOEIC 300 đối với hệ đại học, TOEIC 250 đối với hệ cao đẳng và TOEIC 200 đối với hệ trung cấp) trong số 496 SV đóng góp ý kiến 11 cho câu hỏi này thì có 23% trên tổng số SV cho rằng tiêu chuẩn trên là quá cao, cần hạ thấp số điểm, nhưng có 12% SV cho rằng cần tăng thêm số điểm vì như theo tiêu chuẩn trường đang áp dụng là quá thấp. Một phần nhỏ (7%) có ý kiến khác cho rằng việc áp dụng trên là phù hợp với trình độ chung của SV trường ĐHNT nhưng chưa phù hợp với nhu cầu của xã hội.

Nhưng lại có tới gần 60% tức 287 SV cho rằng việc áp dụng như hiện tại là hợp lý, phù hợp với trình độ chung của SV và nhu cầu của xã hội. Điều này cho thấy việc Nhà trường đưa chuẩn hóa đầu ra với TOEIC là hoàn toàn phù hợp với ý nguyện của SV và nhu cầu xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giải pháp tạo động cơ học tiếng Anh tích cực cho sinh viên không chuyên tại Đại học Nha Trang" trình bày những phương pháp hiệu quả nhằm khuyến khích sinh viên không chuyên học tiếng Anh một cách tích cực. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường học tập thân thiện và động lực học tập mạnh mẽ, từ đó giúp sinh viên nâng cao khả năng ngôn ngữ và tự tin hơn trong giao tiếp. Bài viết không chỉ cung cấp những giải pháp cụ thể mà còn chỉ ra lợi ích của việc học tiếng Anh trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Để mở rộng thêm kiến thức về động lực học tiếng Anh, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ factors affecting nonenglish major students motivation to learn english at ba riavung tau university bvu, nơi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tiếng Anh của sinh viên không chuyên. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ luật học nhận thức của sinh viên chuyên ngành tiếng anh về những trở ngại khi thuyết trình trong giờ học tiếng anh pháp luật tại đại học luật hà nội cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức mà sinh viên gặp phải trong quá trình học tiếng Anh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn nghiên cứu tìm lỗi phát âm tiếng anh của sinh viên năm thứ tư khoa ngoại ngữ đại học vinh và gợi ý một số biện pháp khắc phục, giúp bạn nắm bắt được các vấn đề phát âm và cách khắc phục hiệu quả. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về việc học tiếng Anh cho sinh viên không chuyên.