PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI: Giao thông Vận tải có tầm quan trọng đặc biệt, là huyết mạch của quốc gia, là cầu nối giao lưu các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội. Giao thông vận tải đóng vai trò tích cực trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế quận Thủ Đức thì có một phần đóng góp không nhỏ của cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ.
Trong những năm tới thì việc hoàn thiện hệ thống giao thông là một nhu cầu tất yếu. Mặt dù, việc phát triển và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ là một việc làm cấp thiết. Tuy nhiên, việc quản lý thực hiện các công trình giao thông trên địa bàn Quận còn nhiều bất cập và chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Do đó việc nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng các công trình giao thông đường bộ trên địa bàn quận Thủ Đức đến năm 2020.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI: Thông qua việc đánh giá hiệu quả đầu tư xây dựng các công trình giao thông đường bộ trên địa bàn quận Thủ Đức, đề tài nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng các công trình giao thông đường bộ như hiệu quả quản lý vốn đầu tư xây dựng, hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả kỹ thuật,…trên địa bàn quận Thủ Đức đến năm 2020. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU: Đối tượng nghiên cứu là các tiêu chuẩn, hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư xây dựng công trình giao thông. PHẠM VỊ NGHIÊN CỨU: Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các công trình giao thông đường bộ do Quận Thủ Đức quản lý trong những năm gần đây. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp: Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích; Phương pháp đối chiếu; Phương pháp so sánh; ngoài ra luận văn lựa chọn một vài dự án điển hình để phân tích.
KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI: Đề tài được kết cấu bởi 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dự án và hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình. Chƣơng 2: Thực trạng đầu tư xây dựng công trình giao thông đường bộ trên địa bàn quận Thủ Đức. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng các công trình giao thông đường bộ trên địa bàn quận Thủ Đức đến năm 2020. 19 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN VÀ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.
DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Khái niệm và phân loại dự án đầu tƣ xây dựng công trình. Khái niệm dự án đầu tư: Dự án là sự nổ lực tạm thời để tạo ra để tạo ra một sản phẩm hoặc một dịch vụ đặc thù. Một dự án được hình thành khi một nhóm các nhà tài trợ (tổ chức, công ty, chính phủ) cần có một sản phẩm (hoặc dịch vụ, chúng ta sẽ gọi chung là sản phẩm) mà sản phẩm này không có sẵn trên thị trường; sản phẩm này cần phải được làm ra.
Như vậy dự án là tên gọi chung cho một nhóm các hoạt động (tiến trình) với mục tiêu duy nhất là tạo ra được sản phẩm theo mong muốn của các nhà tài trợ. Với ý nghĩa đó, các dự án thường được triển khai như là các phương tiện để thực hiện các mục tiêu của tổ chức (ví dụ: phân khúc thị trường, quảng bá thương hiệu, mở rộng sản xuất), do đó các hoạt động của dự án và các hoạt động của tổ chức rất giống nhau ở các điểm: Được thực hiện bởi con người (là nhân tố quyết định của nguồn lực). Bị ràng buộc bởi nguồn lực giới hạn, như kinh phí, khả năng thực hiện, thời gian, … Phải được hoạch định (định nghĩa), thực thi và điều khiển để có kết quả mong muốn. Tuy nhiên chúng cũng có những điểm khác biệt nhau: Các hoạt động trong tổ chức diễn ra liên tục và lặp đi lặp lại.
Các tổ chức kinh tế thông thường chỉ tạo ra một số sản phẩm nhất định để bán trên thị trường, và các sản phẩm này được sản xuất bằng một phương pháp nhất định, không hoặc ít thay đổi theo thời gian, và các sản phẩm được sản xuất liên tục 20 (tiến trình sản xuất được lặp lại cho mỗi sản phẩm) để tạo ra số lượng lớn cung cấp cho thị trường. Các hoạt động của dự án lại mang nặng tính chất tạm thời và đặc thù. - Tính chất tạm thời: Dự án luôn luôn có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc (dự án chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định). Dự án kết thúc khi các mục tiêu của dự án đã đạt được, hoặc sau một thời gian thực hiện, các mục tiêu của dự án được nhận thức rõ là không thể thực hiện được hoặc không còn cần thiết nữa, trong khi đó mục tiêu của tổ chức sẽ được tiếp tục cải tiến để định hướng cho các kế hoạch trong tương lai).
Đặc tính tạm thời của dự án còn thể hiện ở tổ chức nguồn lực. Khi dự án được thiết lập, một số nhân viên (của tổ chức) được tạm thời điều chuyển sang làm dự án cho đến khi dự án kết thúc, tất cả những thành viên của dự án sẽ không còn có trách nhiệm về dự án nữa. Tuy nhiên, tính chất tạm thời không áp dụng cho sản phẩm của dự án, vì sản phẩm của dự án vẫn sẽ còn được sử dụng lâu dài sau khi dự án kết thúc, ví dụ: dự án xây cầu Mỹ Thuận. - Tính chất đặc thù: Các sản phẩm/dịch vụ của dự án thường mang nhiều đặc tính mới, không giống với các sản phẩm/dịch vụ đã từng có.
Hệ thống thông tin được xây dựng cho tổ chức là một dạng sản phẩm đặc thù vì nó phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc nguồn lực, quy trình và năng lực của mỗi tổ chức. Ngoài ra tính chất đặc thù còn được thể hiện ở các tiến trình mà trước đó chưa từng được làm. Để tạo ra các giống cây ăn trái có chất lượng tốt, ngoài phương pháp lai giống nhân tạo, các nhà khoa học phải nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới (như di truyền học, gen) trên từng loại cây để tìm phương pháp cho quả tốt hơn. - Sự tinh chỉnh từng bước: Do các phương pháp tạo sản phẩm chưa được biết, chưa có kinh nghiệm nên dự án cần phải được tiến hành cẩn thận, ứng dụng từ khoa học đến thực tiễn và làm từng bước có kiểm chứng để bảo đảm cho dự án đi đến thành công, và quá trình này gọi là sự tinh chỉnh từng bước.
Khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình: Dự án đầu tư có thể xem xét ở nhiều góc độ: Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập tài liệu mang tính pháp lý, mà ở đó được trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý mà ở đó được hoạch định về việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài. Trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ để thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung.
Trên góc độ về nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hóa nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định. Dù ở góc độ nào thì dự án đầu tư gồm các thành phần chính như: Mục tiêu của dự án: Mục tiêu của dự án thể hiện mục đích đầu tư của chủ đầu tư đó là thu được lợi ích thông qua kết quả hoạt động của dự án đầu tư. Mục tiêu của Chủ đầu tư bao gồm: mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. Mục tiêu trước mắt là mục đích cụ thể cần đạt được thông qua việc thực hiện dự án.
Các kết quả: Đó là kết quả cụ thể có định hướng được tạo ra từ các hoạt động của dự án, là điều kiện cần thiết để thể hiện mục tiêu dự án. Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động cần được thực hiện nhằm tạo ra kết quả nhất định. Các hoạt động của dự án là tạo ra các kế hoạch làm việc của dự án, đó là việc định rõ nhiệm vụ, thời gian cần thực hiện, trách nhiệm của các bộ phận tham gia vào quá trình thực hiện dự án. 22 Các nguồn lực: Là việc định ra kế hoạch nhu cầu, kế hoạch cung cấp về nguồn lực: tài chính, nhân lực, … và các nhu cầu cần thiết khác để tiến hành các hoạt động của dự án.
Như vậy: Dự án đầu tư xây dựng công trình là văn kiện mà ở đó bằng phương pháp khoa học, người ta luận cứ được tổng hợp các giải pháp kinh tế - kỹ thuật về việc bỏ vốn để cải tạo hoặc xây dựng mới công trình, những biện pháp tổ chức khai thác để phục vụ nhu cầu của xã hội và đạt được hiệu quả kinh tế trong khoảng thời gian nhất định. Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình: Các dự án đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọi chung là dự án) được phân loại như sau: a) Theo quy mô và tính chất: Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 03 nhóm A, B, C như sau: (phụ lục 1). b) Theo nguồn vốn đầu tư: Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn. Các giai đoạn của dự án đầu tƣ xây dựng công trình.