chương 1 sẽ trình bày cơ sở lý luận về xuất khẩu và cơ sở thực tiễn để khẳng định sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu Thanh long sang bang California, Mỹ. Chương này bao gồm hai phần chính: (1) lý luận cơ bản về xuất khẩu, (2) Cơ sở thực tiễn của đề tài 1. Lý luận cơ bản về xuất khẩu 1. Định nghĩa xuất khẩu Ngoại thương là một hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời.
Hiện nay, không một quốc gia nào trên thế giới không tham gia vào hoạt động ngoại thương. Đây là động lực không những giúp phát triển kinh tế của một quốc gia mà còn góp phần thực hiện phân công lao động quốc tế. Các hoạt động ngoại thương chính bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu. Xuất khẩu là bán hàng hay đưa hàng ra nước ngoài.
Hàng hóa xuất khẩu rất đa dạng: hàng công nghiệp, hàng nông nghiệp, hàng tiêu dùng, kiến thức khoa học kỹ thuật, các dịch vụ. (nguồn:[24]) Có hai phương thức xuất khẩu chính: xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp. Xuất khẩu trực tiếp: là doanh nghiệp trực tiếp bán sản phẩm của mình ra nước ngoài. Phương thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm vững nghiệp vụ xuất khẩu, có kinh nghiệm trên thị trường quốc tế.
Mặc dù hình thức kinh doanh này đem lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng nó cũng mang lại nhiều rủi ro và thách thức. 7 Xuất khẩu gián tiếp: là doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu hàng hóa của mình ra nước ngoài thông qua một trung gian thương mại. Các doanh nghiệp này thường là các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, chưa đủ điều kiện xuất khẩu trực tiếp hay chưa được phép xuất khẩu hàng hóa đó ra nước ngoài. Trung gian thương mại có thể là một công ty ủy thác xuất khẩu trong nước, công ty thương mại chuyên môi giới trong nước, công ty môi giới nước ngoài.
Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gồm: các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài. Các nhân tố bên trong: là các nhân tố từ môi trường bên trong của nước xuất khẩu tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của quốc gia. Các nhân tố này bao gồm: điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật và chính sách về xuất khẩu của quốc gia. - Điều kiện tự nhiên: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, khoáng sản .Các yếu tố này quyết định sản lượng và chất lượng sản phẩm làm ra, và quyết định lợi thế cạnh tranh của quốc gia đối với mặt hàng xuất khẩu.
- Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật: nhà xưởng, máy móc thiết bị, kho tàng, đường xá, điện, bến bãi, hệ thống thông tin liên lạc. Nếu các yếu tố này phát triển sẽ thúc đẩy nhanh hoạt động xuất khẩu, giúp sản phẩm trong nước có cơ hội tiếp cận sâu rộng thị trường thế giới. Ngược lại, nó có thể làm hạn chế quá trình xuất khẩu, làm giảm chất lượng sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng nước ngoài. - Chính sách xuất khẩu của quốc gia.
Trong mỗi thời kỳ của một đất nước đều có các chính sách thương mại khác nhau như: khuyến khích ngoại thương, hạn chế ngoại thương hay không thực hiện giao thương với nước ngoài. Và trong mỗi giai đoạn này, nhà nước áp dụng các công cụ như 8 thuế, hàng rào phi thuế quan, tỷ giá hối đoái. để điều tiết hoạt động ngoại thương, trong đó có xuất khẩu. Các nhân tố bên ngoài: Trước khi quyết định chọn thị trường nước ngoài để kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải tìm hiểu các nhân tố liên quan đến thị trường này bao gồm: - Điều kiện địa lý, khí hậu, diện tích, dân số nước nhập khẩu, ngôn ngữ, truyền thống, tập quán.
Các yếu tố này cung cấp cho doanh nghiệp thông tin ban đầu để có được quyết định đúng đắn. Ví dụ: với thời tiết như ở Châu Phi thì khó mà bán được áo len, dạ. - Môi trường kinh tế- tài chính, cơ sở hạ tầng: Tính chất hấp dẫn của một đất nước là do hai đặc điểm quyết định. Thứ nhất là cơ cấu kinh tế, thứ hai là tính chất phân phối thu nhập trong nước.
Cơ cấu kinh tế trong nước quyết định nhu cầu của nó về hàng hóa, dịch vụ, mức thu nhập và tỷ lệ người có công ăn việc làm. Những nhu cầu trên đây phụ thuộc vào quốc gia đó là nước chậm phát triển, nước đang phát triển hay nước công nghiệp phát triển. Khả năng xuất khẩu của một nước cũng quyết định nhu cầu nhập khẩu của họ. Đặc điểm thứ hai cần phải biết để bán được hàng là tính chất phân phối thu nhập trong nước bạn hàng.
Sự phân phối thu nhập chịu ảnh hưởng không chỉ của những đặc điểm kinh tế của đất nước mà cả của những đặc điểm của hệ thống chính trị. Tính chất phân phối thu nhập làm cho một quốc gia nào đó có đặc điểm thu nhập của dân cư như sau: • Có một số ít người giàu, thu nhập cao, còn lại đại đa số có mức thu nhập thấp. • Có mức thu nhập phần nhiều là thấp • Có mức thu nhập phần nhiều là trung bình. 9 Ngoài ra, doanh nghiệp xuất khẩu cũng phải biết: tỷ giá hối đoái và sự biến động giá của nó; hệ thống ngân hàng của nước nhập khẩu, tình hình lạm phát của nước nhập khẩu; và cũng không thể bỏ qua cơ sở hạ tầng: hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giao thông, khả năng giải phóng phương tiện các sân bay, bến cảng; hệ thống điện nước, năng lượng cung cấp cho kinh doanh; hệ thống kho tàng … Những đặc điểm trên có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng, chất lượng và cơ cấu hàng mua (nguồn: [2]) - Môi trường pháp luật, chính trị: Các quốc gia thường rất khác nhau về môi trường chính trị - pháp luật.
Để đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu, khi thiết lập quan hệ kinh doanh với đối tác ở một quốc gia nào đó, doanh nghiệp xuất khẩu cần chú ý tới các nhân tố sau: • Thái độ của chính phủ đối với ngoại thương: bảo hộ mậu dịch hay mậu dịch tự do. • Sự ổn định chính trị của nước nhập khẩu • Thỏa ước quốc tế mà quốc gia đó đã tham gia • Những hạn chế về ngoại tệ • Bộ máy nhà nước • Qui chế của chính phủ đối với các luật lệ, văn phòng đại diện và chi nhánh của công ty ở nước ngoài. • Các thủ tục hải quan, thuế hải quan, những qui định và các yếu tố ảnh hưởng đến buôn bán. • Giấy phép xuất nhập khẩu, hồi chuyển lợi tức, qui định về lương thực, thực phẩm, y tế, an toàn kiểm dịch cần phải đảm bảo.
• Luật đầu tư nước ngoài và các văn bản có liên quan. • Thuế gồm có: thuế xuất nhập khẩu, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp … 10 • Hạn ngạch xuất nhập khẩu. • Luật pháp trong quảng cáo của từng nước, luật chống phá giá. - Môi trường cạnh tranh: có nhiều cách cạnh tranh trên thị trường quốc tế: • Bằng sản phẩm: đưa ra sản phẩm chất lượng cao hơn, bao bì đẹp hơn.
• Bằng giá: định giá thấp hơn đối thủ, bớt giá. • Bằng hệ thống phân phối: ưu đãi cho những thành viên trong kênh phân phối cao hơn đối thủ. • Bằng quảng cáo và khuyến mãi. • Dịch vụ sau bán hàng tốt hơn.
• Phương thức chi trả thuận lợi hơn. Khi nghiên cứu cạnh tranh, cần xác định: • Ai là đối thủ của mình. • Ðối thủ từ đâu đến, nếu đối thủ từ nước khác đến thì tìm cách cạnh tranh bằng giá cả, chất lượng; nếu đối thủ ở ngay nước sở tại, nhà xuất khẩu có thể thành công bằng sản phẩm mới chất lượng cao hơn. • Ðối thủ có lợi thế gì và nhà xuất khẩu có lợi thế nào hơn đối thủ • Có chỗ nào cho công ty và đối thủ cùng hợp tác với nhau hay không.
- Môi trường văn hóa – xã hội: Mỗi quốc gia đều có những phong tục, tập quán, những quy tắc, những điều cấm kỵ riêng của mình. Để hoạt động kinh doanh khỏi thất bại, người bán phải nghiên cứu kỹ xem những người mua ở nước ngoài chấp nhận mặt hàng này hay mặt hàng kia như thế nào và họ sử dụng chúng ra sao. Sự khác biệt về văn hóa cũng ảnh hưởng đến cách thức giao dịch loại sản phẩm mà người tiêu dùng yêu cầu, hình thức quảng cáo và khuyến mãi nào có thể được chấp nhận. 11 Ðặc điểm văn hóa – xã hội khác nhau ở các nước thường được thể hiện ở các mặt như quan niệm về thời gian, không gian, ngôn ngữ, tôn giáo.
Hiểu rõ những nét đặc trưng của từng nền văn hóa là cơ sở để tạo nên sản phẩm phù hợp với nhu cầu và chủ động trong đàm phán kinh doanh. Không nên cố áp đặt lên đối tác những cách cư xử của riêng doanh nghiệp, vì nó sẽ trực tiếp gây khó chịu cho khách hàng và có thể rất dễ thất bại trong kinh doanh. Trong quá trình nghiên cứu về văn hóa, các doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu các góc độ ngôn ngữ tôn giáo, tổ chức xã hội, truyền thống, yếu tố tạo thành xã hội như: gia đình, chủng tộc, giai cấp, các hiệp hội, ảnh hưởng đến tập quán của người tiêu dùng. Cơ sở thực tiễn của đề tài 1.
Tiềm lực sản xuất xuất khẩu Thanh long của Việt Nam 1. Về điều kiện tự nhiên: Cây Thanh long là một loại cây leo, có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Trung Mỹ và Nam Mỹ. Cây này thuộc họ xương rồng (Cactaceae), có tên khoa học là Hylocereus Undatus, tên tiếng Anh là Pitahaya hay Dragon Fruit. Quả Thanh long hình xoan, to, bóng, đẹp, thịt có nhiều hạt đen như hạt vừng đen.
Cây Thanh long trồng được trên nhiều loại đất khác nhau từ đất cát pha, đất xám bạc màu, đất phèn đến đất phù sa, đất đỏ bazan, đất thịt… Tuy nhiên, cây Thanh long đạt hiệu quả cao trong điều kiện đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, không bị nhiễm mặn và có pH từ 5 – 7. Cây Thanh long du nhập vào Việt Nam từ hơn 100 năm nay, được trồng nhiều ở một số tỉnh miền Nam, trong đó nơi trồng nhiều nhất là Bình Thuận, Long An và Tiền Giang.