phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương: - Chƣơng 1: Tổng quan về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp - Chƣơng 2: Thực trạng công tác thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng - Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường công tác thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thuế 1. Khái niệm thuế Thuế là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử.
Về mặt xã hội: Thuế xuất hiện và tồn tại cùng với sự hình thành và tồn tại của Nhà nước; ở góc độ kinh tế: Thuế ra đời gắn với sự ra đời của sản phẩm thặng dư. Sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy đã mở ra một thời kỳ mới của xã hội loài người, thời kỳ phát triển có sự tồn tại của Nhà nước. Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, Lênin đã khẳng định Nhà nước là công cụ của giai cấp này dùng để thống trị các giai cấp khác trong xã hội. Để trang bị cho bộ máy thống trị xã hội này, Nhà nước phải trông chờ vào sự đóng góp của toàn thể dân chúng.
Những khoản đóng góp mà người công dân rút ra từ thu nhập của mình chuyển cho Nhà nước, nhằm tạo nguồn vật chất cung ứng cho mọi mặt hoạt động của Nhà nước - gọi là THUẾ. Như vậy, thuế là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử và là yếu tố khách quan xuất phát từ yêu cầu đáp ứng chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thuế là cơ sở vật chất chủ yếu của Nhà nước, là nguồn kinh phí hoạt động của Nhà nước, thuế tồn tại, phát triển và tiêu vong gắn liền với sự tồn tại, phát triển và tiêu vong của Nhà nước. Bản chất của thuế Các nhà kinh tế học chính trị Macxit định nghĩa về thuế rất đơn giản.
Theo Mác, thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Chính phủ, là thủ đoạn giản tiện cho Kho bạc Nhà nước thu được tiền. Còn theo Ăng-Ghen, thì để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của những công dân của Nhà nước - đó là thuế. Các nhà kinh tế học tư bản về cơ bản có hai quan điểm nhìn nhận về thuế trái ngược nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng: Thuế là sự thỏa ước giữa một bên là Nhà nước và một bên là đại diện của dân chúng (Quốc hội), do đã có sự thỏa thuận 5 này nên việc nộp thuế hoàn toàn mang tính tự nguyện vì lợi ích an sinh của người nộp thuế (với các đại diện tiêu biểu: Jean Jacques Rousseau, S.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Thuế là nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước, Nhà nước không thể trông chờ vào việc tự nguyện đóng góp, mà phải dùng quyền lực để bắt buộc các tầng lớp dân cư phải nộp thuế (với các đại diện tiêu biểu: E. Thực chất, thuế là khoản thu bắt buộc, được xây dựng và thu về cho Nhà nước bằng con đường quyền lực chứ không thể trông chờ vào tính tự nguyện của người nộp thuế. Mục tiêu của thuế là bù đắp các khoản chi phí của bộ máy Nhà nƣớc và phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng. Trên phương diện kinh tế, thuế là một công cụ tác động vĩ mô đến tình hình kinh tế.
Về phương diện xã hội, thuế được Nhà nước sử dụng như phương tiện thực hiện phân phối lại thu nhập toàn xã hội. Cần lƣu ý một điểm quan trọng, thuế chỉ được sử dụng phục vụ cho lợi ích chung của xã hội chứ không vì quyền lợi của bất cứ một người nộp thuế nào. Vì vậy, mọi công dân bắt buộc phải nộp thuế cho Nhà nước, trốn thuế xem là hành vi trốn tránh trách nhiệm đối với cộng đồng và vi phạm pháp luật; khi nộp thuế người nộp không đƣợc quyền đòi hỏi từ phía Nhà nước sự hoàn trả trực tiếp (đối giá) bất kỳ một hàng hóa, dịch vụ nào tương ứng với khoản tiền thuế đã nộp để phục vụ cho lợi ích riêng tư của người nộp thuế. Đến đây có thể đi đến kết luận về bản chất của thuế: Thuế trước hết là các khoản thu bắt buộc, là nghĩa vụ của các thể nhân và pháp nhân trong xã hội.
Nhà nước dùng quyền lực của mình để đặt ra các loại thuế và được cơ quan lập pháp quy định. Thuế thu vào ngân sách nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, và không mang tính chất hoàn trả trực tiếp hay đối giá trực tiếp cho các đối tượng nộp thuế. Ngoài việc bảo đảm nguồn thu cho ngân sách, thuế còn được Nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế và phân phối lại thu nhập. Phân loại thuế 1.
Căn cứ vào tính chất thuế Được phân thành hai loại: 6 + Thuế gián thu: Là những loại thuế đánh vào giá trị hàng hoá khi lƣu chuyển trên thị trƣờng, loại thuế này ngƣời trực tiếp nộp thuế chƣa hẳn là ngƣời gánh chịu thuế. Thuế gián thu là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng. Ngƣời sản xuất, kinh doanh nộp thuế, nhƣng thực chất thuế này đánh vào ngƣời tiêu dùng và đã đƣợc trả qua giá mua hàng, giá dịch vụ. Thuế gián thu tính vào chi phí và đƣợc trừ đi khi xác định lợi tức chịu thuế.
+ Thuế trực thu: Là những loại thuế thu trực tiếp vào các thể nhân và pháp nhân khi có thu nhập được qui định nộp thuế. Đây là loại thuế mà ngƣời nộp thuế và ngƣời gánh chịu thuế là một, nghĩa là ngƣời nộp thuế không có khả năng chuyển gánh nặng thuế này cho ngƣời khác. Thuế trực thu trực tiếp động viên điều tiết thu nhập của người nộp thuế và nó không được tính vào khoản chi phí để trừ đi khi xác định lợi tức chịu thuế. Về mặt tâm lý: Thuế gián thu ít gây phản ứng đối với người gánh chịu thuế hơn thuế trực thu.
Đồng thời có khuynh hướng ổn định hơn thuế trực thu, vì thậm chí khi nền kinh tế suy thoái, thì người ta vẫn phải mua sắm và tiêu dùng cho những nhu cầu thiết yếu, Nhà nước vẫn thu được thuế. Còn thuế trực thu đánh vào thu nhập nên thường thiếu ổn định, vì nó phụ thuộc vào sự tăng giảm của hiệu quả kinh tế, của thu nhập dân cư và doanh nghiệp. Tuy nhiên thuế trực thu là loại thuế công bằng hơn cả, vì đánh lũy tiến trực tiếp vào thu nhập. Tuy nhiên, sự gánh chịu Thuế chỉ mang tính chất tƣơng đối, sự phân biệt giữa thuế trực thu và thuế gián thu chỉ là tương đối, nhằm thuận tiện cho việc quản lý và nghiên cứu về hệ thống thuế.
Thực chất người chịu thuế là người bán hay người mua rất khó phân biệt, điều này phụ thuộc vào giá cả bán mặt hàng đó, hay nói cách khác là tuỳ thuộc vào độ co giãn về cung cầu của mặt hàng đó trên thị trường. Căn cứ vào đối tƣợng đánh thuế Hệ thống thuế được chia thành các nhóm sau: + Thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như: Thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng. 7 + Thuế đánh vào sản phẩm hàng hóa như: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. + Thuế đánh vào thu nhập như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
+ Thuế đánh vào tài sản: Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế tài nguyên… Ngoài ra trên thế giới ngƣời ta còn phân loại địa giới quản lý hành chính: + Thuế nhà nƣớc: là loại thuế được ban hành và áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ quốc gia từ trung ương đến địa phương. + Thuế địa phƣơng: là loại thuế được soạn thảo, ban hành và áp dụng trong một phạm vi địa giới hành chính ở một quốc gia hay vùng lãnh thổ. Việc phân chia các loại thuế qua các tiêu thức được bảo đảm chặt chẽ, xác đúng hay không còn tùy thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, mức độ phát triển của nền kinh tế. Tuy vậy, phân loại thuế hợp lý là một vấn đề cần thiết cho việc hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, xây dựng thuế suất, biểu thuế, phương pháp hạch toán thu thế thích hợp.
Nguyên tắc xây dựng, chức năng và vai trò của thuế 1. Nguyên tắc xây dựng một sắc thuế - Nguyên tắc minh bạch Nguyên tắc minh bạch đòi hỏi các quy định về thuế phải rõ ràng và mang tính tính đại chúng nhằm ngăn ngừa hiện tượng lạm thu đối với người nộp, ngăn ngừa hiện tượng tham ô và biển lận thuế ở nhân viên thuế. Nhà nước và cơ quan hành thu phải tạo điều kiện để doanh nghiệp và dân chúng thực hiện quyền được biết một cách minh bạch số tiền thuế phải nộp, thủ tục hành thu, nộp thuế, ưu đãi thuế , .Những quy định của thuế phải phổ thông và nhất quán; tính toán thuế phải đơn giản, dễ thực hiện và dễ kiểm tra. Thu thuế phải thuận lợi cho người nộp theo thời gian và không gian.
8 - Nguyên tắc hiệu quả Nguyên tắc này đòi hỏi việc xây dựng mỗi sắc thuế và hệ thống thuế phải chú trọng đến hiệu quả kinh tế – xã hội. - Nguyên tắc linh hoạt Nguyên tắc này đòi hỏi thuế phải gắn chặt hoạt động kinh tế, phản ánh thực sự những thăng trầm kinh tế và những biến động chính trị, xã hội. - Nguyên tắc công bằng Nguyên tắc công bằng đòi hỏi thuế phải tái phân phối sản phẩm xã hội theo khả năng tài chính của người chịu thuế. Về mặt xã hội, nguyên tắc công bằng đòi hỏi người thu thuế không được phân biệt đối xử đối tượng nộp thuế và thuế phải góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các đối tượng nộp thuế.
Nguyên tắc công bằng có liên quan đến tính trung lập. Tính trung lập của thuế đòi hỏi Nhà nước không được nhân cơ hội đánh thuế để làm thay đổi tương quan thu nhập giữa các doanh nghiệp hoặc tình trạng kinh tế giữa các công dân. Thuế chỉ nên làm số thu nhập thường xuyên của tư nhân giảm xuống, rồi đến chi tiêu, Nhà nước hoàn lại cho cá nhân bằng lợi ích của các dịch vụ công.