Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thuế đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, là công cụ định hướng, điều tiết kinh tế vĩ mô và là bộ phận cấu thành của chính sách tài khóa quốc gia. Cùng với tiến trình đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế, hệ thống thuế Việt Nam đã có những bước chuyển biến căn bản về cơ chế chính sách, ban hành thêm các sắc thuế mới và chuyển đổi phương thức quản lý sang cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp. Trong mô hình quản lý chức năng đó, công tác kiểm tra thuế trở thành khâu giám sát trọng yếu nhằm bảo đảm sự tuân thủ tự nguyện và bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước.
Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tại Việt Nam cho thấy hệ thống văn bản pháp luật vẫn còn những điểm chưa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho các hành vi gian lận. Ý thức chấp hành pháp luật thuế của một bộ phận người nộp thuế còn hạn chế, xuất hiện tình trạng thành lập doanh nghiệp "ma" nhằm mua bán hóa đơn bất hợp pháp hoặc kê khai khống để chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng. Tại huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa quản lý nguồn thu trên một địa bàn kinh tế cấp huyện với số lượng doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể tăng dần qua các năm, đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng công tác kiểm tra người nộp thuế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về kiểm tra thuế trong quản lý nhà nước, bao gồm khái niệm, vai trò, mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, nội dung và các phương pháp kiểm tra thuế.
- Khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng công tác kiểm tra người nộp thuế tại Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa giai đoạn 2008 – 2011, phân tích kết quả thu ngân sách, kết quả truy thu và chỉ ra các hạn chế cùng nguyên nhân tồn tại.
- Đề xuất các nhóm giải pháp mang tính khả thi nhằm tăng cường công tác kiểm tra người nộp thuế tại Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa, phù hợp với định hướng cải cách thuế giai đoạn đến năm 2020.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tập trung vào công tác kiểm tra thuế đối với người nộp thuế, chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ kinh doanh cá thể. Phạm vi không gian nghiên cứu được giới hạn tại địa bàn huyện Hạ Hòa thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Phạm vi thời gian tập trung vào số liệu thực tế giai đoạn 2008 – 2011 và đề xuất định hướng cho các năm tiếp theo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận về quản lý thuế hiện đại theo mô hình chức năng, trong đó kiểm tra thuế được định nghĩa là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế, tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế và việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế. Về mặt pháp lý, đề tài vận dụng các quy định của Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, đặc biệt là các quy định tại Điểm 6 Điều 6 và Điểm 8 Điều 8 Chương I về công khai biên bản kiểm tra), Luật Kế toán, Luật Doanh nghiệp, cùng Quyết định số 503/QĐ-TCT của Tổng cục Thuế quy định về tổ chức bộ máy chi cục thuế.
Quá trình chuyển đổi nghiệp vụ kiểm tra thuế gắn liền với hệ thống văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế qua từng thời kỳ:
- Quy trình 1322/TCT-HTQT ban hành năm 2004.
- Quy trình 1166/QĐ-TCT áp dụng giai đoạn 2005 – 2006.
- Công văn số 530/TCT-TTr ngày 23/01/2007.
- Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29/05/2008 về quy trình kiểm tra thuế.
- Quyết định số 460/QĐ-TCT ngày 05/05/2009.
- Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/05/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020.
Về mặt lý luận nghiệp vụ, tác giả vận dụng kỹ thuật phân tích rủi ro trong quản lý thuế với cấu trúc gồm 4 thành phần: hệ thống thu thập thông tin, bộ phận lưu trữ thông tin, trung tâm phân tích và dự báo rủi ro, bộ phận dự phòng và xử lý rủi ro. Phương pháp phân loại và đánh giá người nộp thuế được xây dựng dựa trên các tiêu chí rủi ro để tối ưu hóa nguồn lực kiểm tra có hạn của cơ quan quản lý.
Phương pháp nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu bao gồm: hệ thống hóa lý luận, khảo sát thực tế tại Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu số liệu chỉ tiêu kế hoạch và thực hiện, phân tích định lượng kết quả truy thu thuế, cùng các phương pháp luận giải và suy đoán logic. Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là số liệu thứ cấp chính thức từ các báo cáo tổng kết thu ngân sách, báo cáo kiểm tra thuế và sổ sách kế toán thuế của Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa trong giai đoạn 2008 – 2011.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Khái quát chung về kiểm tra thuế
Phần thứ nhất tập trung làm rõ bản chất lý luận của công tác kiểm tra thuế trong nền kinh tế thị trường. Tác giả chỉ ra 3 đặc điểm mang tính đặc thù của kiểm tra thuế: phạm vi điều chỉnh rộng khắp các tổ chức và cá nhân; tính chất phức tạp, va chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế; đòi hỏi khắt khe về trình độ chuyên môn lẫn phẩm chất đạo đức của cán bộ thuế. Đồng thời, kiểm tra thuế giữ 3 vai trò quan trọng: cung cấp thực tiễn để hoàn thiện chính sách pháp luật thuế; răn đe, phòng ngừa các hành vi gian lận và tội phạm thuế; thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính thuế.
Hoạt động kiểm tra thuế phải quán triệt 3 yêu cầu (chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; tuân thủ pháp luật; đảm bảo thi hành đúng luật và ngăn ngừa trốn lậu) cùng 5 nguyên tắc căn bản:
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật.
- Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan.
- Nguyên tắc công khai, dân chủ.
- Nguyên tắc bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp và bí mật nhà nước.
- Nguyên tắc hiệu quả kinh tế - xã hội.
Về nội dung, kiểm tra thuế bao gồm hai mảng nghiệp vụ: kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ (chế độ mở sổ sách, sử dụng hóa đơn theo cơ chế tự in, tính hợp pháp của hóa đơn bán hàng, phiếu xuất kho, chứng từ thu chi) và kiểm tra việc kê khai, tính thuế, nộp thuế (căn cứ tính thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, chính sách miễn giảm, đối chiếu thời hạn nộp thuế qua giấy nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước).
Tác giả phân loại kiểm tra thuế theo tính kế hoạch (theo kế hoạch định trước và đột xuất), theo nội dung - phạm vi (toàn phần và từng phần), và theo địa điểm tiến hành (kiểm tra tại bàn ở cơ quan thuế với thời hạn chuẩn 5 ngày cho người nộp thuế lớn, 3 ngày cho người nộp thuế vừa; kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế do đoàn kiểm tra từ 2 cán bộ trở lên thực hiện). Các phương pháp kiểm tra cụ thể gồm: kỹ thuật phân tích rủi ro, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết, kiểm tra chứng từ gốc (theo trình tự thời gian, theo loại nghiệp vụ, kiểm tra điển hình) và các phương pháp bổ trợ (quan sát, phỏng vấn, thẩm tra xác nhận từng phần, tính toán toán học).
Phần II: Thực trạng công tác kiểm tra người nộp thuế tại Chi cục Thuế Hạ Hòa trong thời gian qua
Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa là đơn vị quản lý thu cấp huyện với mức thu ngân sách hàng năm dưới 300 tỷ đồng, được tổ chức theo Quyết định số 503/QĐ-TCT gồm Ban Lãnh đạo (1 Chi cục trưởng, 2 Chi cục phó) và 10 đội nghiệp vụ: Đội Tuyên truyền – Nghiệp vụ và Hỗ trợ người nộp thuế; Đội Kê khai – Kế toán thuế – Dự toán và Tin học; Đội Kiểm tra và Quản lý nợ thuế; Đội Quản lý thuế thu nhập cá nhân; Đội Quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác; Đội Hành chính – Nhân sự – Tài vụ – Ấn chỉ; cùng 4 đội thuế liên xã (Thị trấn Hạ Hòa, Đan Thượng, Hương Xạ, Xuân Áng). Trong đó, Đội Kiểm tra và Quản lý nợ thuế được giao đảm nhận 28 nhiệm vụ cụ thể bao quát từ giám sát kê khai, ấn định thuế, kiểm tra hồ sơ hoàn thuế, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế đến cưỡng chế thu nợ và xác minh hóa đơn.
Giai đoạn 2008 – 2011, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hạ Hòa đạt 135 tỷ đồng, hàng năm đều vượt dự toán giao: năm 2008 đạt 185,9%; năm 2009 đạt 146,7%; năm 2010 đạt 206,7%; năm 2011 đạt 152,3% dự toán pháp lệnh. Năm 2011, tổng thu đạt 42.213 triệu đồng (chi cục quản lý thu 27.213 triệu đồng), có 9/9 chỉ tiêu hoàn thành vượt dự toán pháp lệnh, nổi bật là thuế ngoài quốc doanh đạt 18.170 triệu đồng, lệ phí trước bạ đạt 3.502 triệu đồng (tăng 65%), thuế thu nhập cá nhân đạt 566 triệu đồng (tăng 55%). Chỉ tiêu duy nhất giảm thu là cấp quyền sử dụng đất (bằng 75% so với năm 2010) do thị trường bất động sản đóng băng.
Quy trình lập kế hoạch kiểm tra thuế tại đơn vị gồm 4 bước: lựa chọn đối tượng, ban hành quyết định, thực hiện kiểm tra và tổng kết đánh giá. Tiêu chí phân loại rủi ro để chọn đối tượng kiểm tra tập trung vào: người nộp thuế có ý thức tuân thủ thấp (kê khai sai nhiều lần, bị kiểm tra tại trụ sở từ 3 lần/năm trở lên, nợ đọng thuế kéo dài); có dấu hiệu bất thường (số thuế giá trị gia tăng âm liên tục, biến động doanh thu hoặc số thuế phải nộp tăng/giảm trên 20%); đơn vị có quy mô doanh thu lớn hoặc theo chỉ đạo thanh tra của cấp trên.
Kết quả kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt: số cuộc kiểm tra giảm dần nhưng chất lượng tăng lên. Năm 2008 lập kế hoạch kiểm tra 150 đơn vị (thực hiện 132); năm 2009 lập kế hoạch 141 (thực hiện 138); năm 2010 lập kế hoạch 100 (thực hiện 97); năm 2011 lập kế hoạch 102 (thực hiện 100). Số thuế truy thu tăng từ 164 triệu đồng (năm 2008) lên 404 triệu đồng (năm 2011). Mức truy thu bình quân trên một đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng từ 1,46 triệu đồng lên 2,33 triệu đồng.
Bên cạnh kết quả đạt được, khóa luận chỉ rõ 5 nhóm hạn chế cơ bản:
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra còn mang tính hình thức, thiếu hệ thống dữ liệu ngành và phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm chủ quan của cán bộ; mỗi năm chi cục mới kiểm tra được khoảng 30% tổng số người nộp thuế.
- Công tác phân tích sâu hồ sơ tại cơ quan thuế còn sơ sài, mới phân tích sơ bộ được khoảng 30% doanh nghiệp quản lý theo quy định tại Quyết định số 528/QĐ-TCT.
- Chất lượng kiểm tra tại cơ sở chưa sâu, biên bản kiểm tra hộ cá thể chưa chuẩn xác, nghiệp vụ quan sát, phỏng vấn thực tế ít được vận dụng, việc xác minh hóa đơn của các công ty bỏ trốn còn hình thức.
- Phối hợp liên ngành và nội bộ chưa chặt chẽ: việc bàn giao hồ sơ giữa bộ phận Kê khai và Ấn chỉ còn thiếu sót; trao đổi thông tin với cơ quan công an, cơ quan điều tra bị chậm trễ, yêu cầu hồ sơ từ phía công an đôi khi dàn trải, trùng lặp hoặc thiếu thông tin mã số thuế, số seri hóa đơn cần tra cứu.
- Cơ sở dữ liệu về người nộp thuế chưa đầy đủ, thiết bị tin học cũ hỏng, dữ liệu cập nhật không thường xuyên và doanh nghiệp e ngại lộ bí mật kinh doanh nên cung cấp thông tin dè dặt.
Nguyên nhân của các hạn chế trên xuất phát từ việc áp dụng kỹ thuật phân tích rủi ro còn thủ công; chưa ứng dụng phần mềm phân tích sâu báo cáo tài chính và định mức tiêu hao nguyên vật liệu; Đội Kiểm tra có quá ít nhân sự; cơ sở vật chất phòng làm việc chật hẹp, máy móc lạc hậu; trình độ cán bộ chưa theo kịp sự phát triển đa dạng của các ngành nghề kinh doanh.
Phần III: Các giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế Hạ Hòa
Phần cuối của công trình xác lập định hướng hoàn thiện gắn với Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 theo Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/05/2011 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó định hình hệ thống sắc thuế chủ yếu (GTGT, TTĐB, xuất nhập khẩu, TNDN, TNCN, tài nguyên, sử dụng đất nông nghiệp, sử dụng đất phi nông nghiệp, bảo vệ môi trường, chuyển đổi thuế môn bài thành lệ phí quản lý hoạt động kinh doanh) và hoàn thiện các khoản thu từ đất đai, khoáng sản.
Để đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghiêm túc pháp luật và hạn chế thất thu từ hành vi gian lận hoàn thuế, khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp nghiệp vụ đồng bộ:
- Xây dựng, hoàn thiện và cập nhật liên tục cơ sở dữ liệu người nộp thuế, bảo đảm tính pháp lý và quy định bảo mật để doanh nghiệp yên tâm hợp tác cung cấp thông tin.
- Hoàn thiện phương pháp kiểm tra dựa trên kỹ thuật phân tích rủi ro, ứng dụng phần mềm tự động phân tích các chỉ tiêu tài chính và định mức kỹ thuật sản xuất.
- Chuẩn hóa, ban hành mới sổ tay nghiệp vụ kiểm tra thuế và các quy trình kiểm tra phù hợp với mô hình tự khai, tự nộp.
- Bổ sung biên chế cho Đội Kiểm tra và Quản lý nợ thuế, đồng thời đào tạo nâng cao trình độ phân tích báo cáo tài chính, kiến thức pháp luật và đạo đức công vụ cho cán bộ kiểm tra.
- Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang bị máy vi tính đồng bộ, hiện đại phục vụ khai thác dữ liệu tập trung.
- Mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra đối chiếu chéo tờ khai, thực hiện hiệu quả công tác xử lý sau kiểm tra, đôn đốc thu hồi tiền thuế nợ và định kỳ tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm nghiệp vụ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh tình hình thu ngân sách và kết quả công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa giai đoạn 2008 – 2011 qua các bảng biểu chi tiết sau:
Bảng 1: Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2010 và 2011 tại Chi cục Thuế Hạ Hòa
(Đơn vị tính: Triệu đồng)
| Chỉ tiêu thu chủ yếu |
Thực hiện năm 2010 |
Đạt % dự toán pháp lệnh 2010 |
Thực hiện năm 2011 |
Đạt % dự toán pháp lệnh 2011 |
| Tổng số thu chi cục quản lý |
19.966 |
206,7% |
27.213 |
152,3% |
| Thuế ngoài quốc doanh |
9.717 |
185,7% |
18.170 |
112,1% |
| - Thuế môn bài |
609 |
114,9% |
630 |
103,3% |
| - Thuế giá trị gia tăng |
8.929 |
188,1% |
17.268 |
111,4% |
| - Thuế tài nguyên và thu khác |
178 |
- |
246 |
246,0% |
| Thuế thu nhập cá nhân |
367 |
146,8% |
566 |
202,1% |
| Thu cấp quyền sử dụng đất |
6.151 |
269,2% |
5.782 |
235,6% |
| Thuế nhà đất |
784 |
112,0% |
876 |
120,0% |
| Tiền thuê đất |
99 |
141,4% |
133 |
147,8% |
| Lệ phí trước bạ |
2.128 |
92,5% |
2.503 |
166,8% |
| Thu phí, lệ phí |
1.235 |
447,0% |
1.251 |
750,3% |
| Thu cố định tại xã |
1.224 |
408,0% |
1.523 |
507,7% |
Bảng 2: Kế hoạch và kết quả kiểm tra người nộp thuế giai đoạn 2008 – 2011
(Đơn vị tính: Số đơn vị)
| Năm |
Kế hoạch DN NQD |
Đã kiểm tra DN NQD |
Kế hoạch Hộ cá thể |
Đã kiểm tra Hộ cá thể |
Tổng kế hoạch |
Tổng đã kiểm tra |
Tỷ lệ hoàn thành (%) |
| 2008 |
48 |
46 |
102 |
86 |
150 |
132 |
88,0% |
| 2009 |
43 |
43 |
98 |
95 |
141 |
138 |
97,9% |
| 2010 |
40 |
37 |
60 |
60 |
100 |
97 |
97,0% |
| 2011 |
35 |
35 |
67 |
65 |
102 |
100 |
98,0% |
Bảng 3: Kết quả truy thu thuế qua hoạt động kiểm tra giai đoạn 2008 – 2011
(Đơn vị tính: Triệu đồng)
| Năm |
Số đơn vị DN NQD |
Số thuế truy thu DN NQD |
Số đơn vị Hộ cá thể |
Số thuế truy thu Hộ cá thể |
Tổng số đơn vị kiểm tra |
Tổng số thuế truy thu |
Truy thu bình quân/DN NQD |
Truy thu bình quân/Hộ cá thể |
| 2008 |
63 |
92 |
985 |
72 |
1.048 |
164 |
1,46 |
0,073 |
| 2009 |
82 |
135 |
1.022 |
87 |
1.104 |
222 |
1,65 |
0,085 |
| 2010 |
97 |
184 |
1.347 |
122 |
1.444 |
306 |
1,90 |
0,090 |
| 2011 |
108 |
252 |
1.563 |
152 |
1.671 |
404 |
2,33 |
0,097 |
Về đóng góp, nghiên cứu đã minh chứng thực tế cho quá trình chuyển đổi mô hình quản lý thuế tại địa bàn cấp huyện: chuyển từ kiểm tra dàn trải diện rộng sang kiểm tra theo chuyên đề và phân tích mức độ vi phạm. Dù số đối tượng lập kế hoạch kiểm tra tại trụ sở giảm dần (từ 150 đơn vị năm 2008 xuống 102 đơn vị năm 2011), tổng số tiền thuế truy thu lại tăng trưởng liên tục (từ 164 triệu đồng lên 404 triệu đồng, tăng 146,3%), đồng thời mức truy thu bình quân trên một doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng từ 1,46 triệu đồng lên 2,33 triệu đồng.
Nghiên cứu cũng đóng góp vào việc phân tích thực tế 28 nhiệm vụ của Đội Kiểm tra và Quản lý nợ thuế theo mô hình chức năng, chỉ ra những điểm nghẽn cụ thể trong phối hợp liên ngành giữa cơ quan thuế và công an (việc trả lời kết quả xác minh hóa đơn chậm, thiếu thông tin seri/mã số thuế) để kiến nghị cơ chế hoàn thiện.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực địa:
- Địa bàn khảo sát giới hạn tại huyện Hạ Hòa, một địa phương miền núi có quy mô thu ngân sách nhỏ (dưới 300 tỷ đồng/năm), cơ cấu người nộp thuế chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ và hộ kinh doanh cá thể, chưa phản ánh đầy đủ tính phức tạp của các tập đoàn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các sắc thuế phức tạp.
- Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phục vụ phân tích thực trạng mới dừng lại ở giai đoạn 2008 – 2011; tỷ lệ hồ sơ doanh nghiệp được phân tích sâu tại cơ quan thuế trước kiểm tra chỉ đạt mức 30%.
- Nội dung phân tích kỹ thuật quản lý rủi ro mới dừng ở mức mô tả định tính các tiêu thức dấu hiệu, chưa xây dựng được mô hình định lượng tính toán điểm số rủi ro tự động hóa.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát so sánh đối chiếu giữa các chi cục thuế có quy mô khác nhau (dưới 300 tỷ đồng và trên 1.000 tỷ đồng), hoặc nghiên cứu ứng dụng phần mềm phân tích chuyên sâu báo cáo tài chính gắn liền với cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) và hóa đơn điện tử trong khuôn khổ hiện đại hóa ngành thuế giai đoạn mới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên chuyên ngành Thuế, Quản lý tài chính công, Kế toán và Kiểm toán tại Học viện Tài chính cũng như các trường đại học khối kinh tế đang thực hiện chuyên đề, đồ án tốt nghiệp về quy trình quản lý thuế và thanh tra kiểm tra người nộp thuế.
- Cán bộ nghiệp vụ tại các chi cục thuế cấp huyện, thị xã đang tìm kiếm tài liệu thực tiễn về việc triển khai 28 nhiệm vụ của đội kiểm tra - quản lý nợ, quy trình lựa chọn đối tượng kiểm tra dựa trên dấu hiệu rủi ro, và kỹ năng đối chiếu sổ sách kế toán với tờ khai thuế.
- Giá trị tham khảo sâu sắc nhất của công trình nằm ở hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết kết quả thu - truy thu ngân sách qua 4 năm liên tục (2008 – 2011), cùng phân tích thực tế về những khó khăn trong việc phối hợp xác minh hóa đơn với cơ quan điều tra công an.
Câu hỏi thường gặp
1. Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa có quy mô và cơ cấu tổ chức như thế nào theo văn bản nghiên cứu?
Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa là chi cục thuế nhỏ có số thu ngân sách hàng năm dưới 300 tỷ đồng. Cơ cấu tổ chức gồm Ban Lãnh đạo (1 Chi cục trưởng, 2 Chi cục phó) và 10 đội nghiệp vụ: Đội Tuyên truyền – Nghiệp vụ và Hỗ trợ người nộp thuế; Đội Kê khai – Kế toán thuế – Dự toán và Tin học; Đội Kiểm tra và Quản lý nợ thuế; Đội Quản lý thuế thu nhập cá nhân; Đội Quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác; Đội Hành chính – Nhân sự – Tài vụ – Ấn chỉ; cùng 4 đội thuế liên xã (Thị trấn Hạ Hòa, Đan Thượng, Hương Xạ, Xuân Áng).
2. Chi cục Thuế Hạ Hòa căn cứ vào những tiêu chí định lượng và dấu hiệu nào để đưa người nộp thuế vào diện kiểm tra?
Đơn vị lựa chọn người nộp thuế vào diện kiểm tra dựa trên:
- Ý thức tuân thủ pháp luật kém: nộp hồ sơ chậm hoặc không đầy đủ; khai thuế hay sai sót, bị nhắc nhở nhiều lần; vi phạm hồ sơ khai thuế mà cơ quan thuế phải ra quyết định kiểm tra tại trụ sở ít nhất 3 lần trong một năm; nợ thuế kéo dài.
- Dấu hiệu bất thường: có số thuế giá trị gia tăng âm liên tục nhưng không xin hoàn (hoặc hồ sơ xin hoàn không đầy đủ và không bổ sung được); có đột biến về doanh thu hoặc số thuế phải nộp tăng/giảm trên 20%.
- Cơ sở kinh doanh có doanh thu hoặc số thuế phải nộp năm trước ở mức lớn, hoặc theo chỉ đạo thanh tra của cấp trên.
3. Số liệu truy thu thuế qua công tác kiểm tra tại Chi cục Thuế Hạ Hòa biến động ra sao trong giai đoạn 2008 – 2011?
Số thuế truy thu qua kiểm tra tăng trưởng liên tục qua từng năm: năm 2008 truy thu 164 triệu đồng; năm 2009 đạt 222 triệu đồng; năm 2010 đạt 306 triệu đồng; năm 2011 đạt mức cao nhất là 404 triệu đồng. Mức thuế truy thu bình quân trên một đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng tăng đều đặn từ 1,46 triệu đồng (năm 2008) lên 1,65 triệu đồng (năm 2009), 1,90 triệu đồng (năm 2010) và 2,33 triệu đồng (năm 2011).
4. Những vướng mắc chính trong quan hệ phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan điều tra công an được tác giả chỉ ra là gì?
Vướng mắc gồm: cơ quan điều tra hồi âm kết quả xác minh chậm khiến cơ quan thuế kéo dài tình trạng nghi vấn; công an yêu cầu cung cấp tài liệu chung chung, dàn trải (yêu cầu hồ sơ từ khi thành lập đến hiện tại) hoặc yêu cầu trùng lặp giữa các cấp gây tốn thời gian; có trường hợp công an yêu cầu hồ sơ nhưng không liên hệ bàn giao; các văn bản yêu cầu xác minh hóa đơn không cung cấp đủ thông tin mã số thuế, ký hiệu, số seri hóa đơn để tra cứu.
5. Định hướng giải pháp của tác giả gắn liền với văn bản chiến lược nào của Chính phủ?
Các giải pháp của tác giả gắn liền với Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/05/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020, định hướng đổi mới đồng bộ hệ thống chính sách các sắc thuế, hoàn thiện bộ máy quản lý và hiện đại hóa công tác kiểm tra người nộp thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Quý Lâm tại Học viện Tài chính đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kiểm tra thuế theo mô hình quản lý chức năng và cơ chế tự khai, tự nộp. Dựa trên số liệu thực tế giai đoạn 2008 – 2011 tại Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa, nghiên cứu đã phản ánh trung thực kết quả tăng thu và truy thu ngân sách, đồng thời phân tích sâu sắc các hạn chế về cơ sở dữ liệu, năng lực phân tích rủi ro và quan hệ phối hợp liên ngành. Các giải pháp đề xuất bám sát Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 của Chính phủ, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản lý thuế cấp cơ sở.