CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CHO DNNVV 1. DNNVV VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN KINH DOANH 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của DNNVV a. Khái niệm, tiêu chí phân loại DNNVV * Khái niệm: Việc phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các tiêu chí phụ thuộc vào nhiều yếu tố: phù hợp với trình độ phát triển, điều kiện và mục đích của mỗi nước.
Nhìn chung, cách phân loại ở mỗi nước có nhiều điểm khác nhau. Tuy vậy, vẫn có một số điểm giống nhau. Chẳng hạn, việc phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của các nước chủ yếu nhằm hỗ trợ doanh nghiệp này phát triển để thực hiện các mục đích như: - Huy động mọi tiềm năng vào sản xuất. - Đáp ứng nhu cầu đa dạng phong phú của xã hội.
- Góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi nước. - Tăng sự năng động, hiệu quả của nền kinh tế, giảm tối đa mức rủi ro trong kinh doanh, giảm bớt độc quyền nhờ tăng số lượng doanh nghiệp, thiết lập quan hệ kinh doanh giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp lớn. Chúng ta có thể tham khảo cách phân loại của một số nước trong khu vực và trên thế giới như sau: Đài Loan: Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa bắt đầu từ năm 1967, được phân làm hai nhóm ngành: công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, thương mại, vận tải và các dịch vụ khác. Năm 1977, họ lại thêm nhóm ngành thứ 3 là ngành khai khoáng.
Trong công nghiệp chế biến và khai khoáng người ta dùng chỉ tiêu vốn góp và lao động. Trong thương mại và dịch vụ khác dùng chỉ tiêu doanh thu và lao động. Luan van 9 - Ở Đài Loan, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có: + Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: có vốn góp dưới 40 triệu đô la Đài Loan (khoảng 1,4 triệu USD) số lao động thường xuyên dưới 300 người. + Trong khai khoáng: Có vốn góp dưới 40 triệu đô la Đài Loan lao động thường xuyên dưới 500 người.
+ Trong thương mại, vận tải và dịch vụ khác: Có tổng doanh thu hàng năm dưới 40 triệu đô la Đài Loan, lao động dưới 50 người. - Hàn Quốc: Theo sắc lệnh cơ bản của Hàn Quốc về doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc phân loại quy mô doanh nghiệp được thực hiện theo hai nhóm ngành: + Trong ngành chế tạo, khai thác, xây dựng: Doanh nghiệp có vốn đầu tư dưới 600.000 USD và số lao động thường xuyên từ 20 - 300 người là doanh nghiệp vừa, số lao động thường xuyên dưới 20 người là doanh nghiệp nhỏ. + Trong thương mại: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có doanh thu dưới 250.000 USD/năm, số lao động dưới 20 người. Ở Việt Nam, DNVV là những cơ sở sản xuất có tư cách pháp nhân, có quy mô doanh nghiệp (tính theo các tiêu thức khác nhau) trong giới hạn nhất định đối với từng giai đoạn cụ thể.
Theo định nghĩa này thì các DNNVV ở Việt Nam không phân biệt các thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế bao gồm: - Các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô nhỏ và vừa được thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước. - Công ty cổ phần, công ty TNHH, các DNTN được thành lập và đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Luan van 10 - Các hợp tác xã có quy mô nhỏ và vừađược thành lập và hoạt động và đăng ký hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
- Các hộ tư nhân và nhóm sản xuất kinh doanh dưới vốn pháp định đăng ký theo Nghị định 66 - HĐBT. Hiện nay, ở nước ta, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 định nghĩa: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.1 - Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy mô lao động và vốn Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động động nguồn vốn động vốn I. Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến đồng đến 100 người đến thủy sản 200 người tỷ đồng 300 người II. Công 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và xây trở xuống trở xuống người đến đồng đến 100 người đến dựng 200 người tỷ đồng 300 người III.
Thương 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến vụ 50 người tỷ đồng 100 người (Nguồn: Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009) Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tính đến ngày 31-12-2011, Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, với số vốn khoảng 6 triệu tỷ đồng. Trong tổng số các doanh nghiệp đó, có gần 97% quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu là DNTN. Các doanh nghiệp không chỉ đóng góp đáng kể vào sự Luan van 11 phát triển kinh tế của đất nước mà còn tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm cho số lao động phần lớn chưa qua đào tạo, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhiều người dân nhiều vùng trên cả nước. * Tiêu chí phân loại: Việc đưa ra khái niệm chuẩn xác về DNNVV có ý nghĩa lớn để xác định đối tượng được hỗ trợ.
Vì vậy, cần chú trọng nghiên cứu tiêu thức phân loại DNNVV. Tuy nhiên, không có một tiêu thức thống nhất để phân loại DNNVV cho tất cả các nước vì điều kiện kinh tế của mỗi nước là khác nhau và ngay trong một nước, sự phân loại cũng khác nhau tùy theo từng thời kỳ, từng ngành nghề, vùng lãnh thổ. Có hai tiêu chí phổ biến để phân loại DNNVV: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chí định tính: dựa trên những đặc trưng cơ bản của các DNNVV: chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp.
Nhóm chỉ tiêu này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nó thường chỉ làm cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít được dùng để phân loại trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng: có thể dùng các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Sự phân loại DN theo quy mô lớn, vừa hay nhỏ thường mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: - Trình độ phát triển kinh tế của một nước: Trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng.
Như vậy, chỉ số về số lao động, vốn để phân loại DNNVV của các nước có trình độ phát triển kinh tế thấp sẽ nhỏ hơn các nước phát triển. Chẳng hạn, ở Nhật Bản, Doanh nghiệp có 300 lao động và một triệu USD tiền vốn được coi là Doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn các Doanh nghiệp có quy mô như vậy ở Thái Lan lại là Doanh nghiệp lớn. Luan van 12 - Tính chất ngành nghề : Do đặc điểm của từng ngành nghề, có ngành sử dụng nhiều lao động (như dệt, may), có ngành sử dụng nhiều vốn nhưng ít lao động (như hoá chất, điện). Trên thực tế ở nhiều nước, để so sánh đối chứng trong phân loại dựa trên tính chất này, người ta thường phân chia thành 2-3 nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khác nhau.
- Vùng lãnh thổ: Do trình độ phát triển giữa các vùng khác nhau, nên số lượng và quy mô Doanh nghiệp cũng khác nhau. Do đó, cần tính đến cả đặc tính vùng miền để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh quy mô Doanh nghiệp giữa các vùng khác nhau. - Tính lịch sử: Một số Doanh nghiệp trước đây được coi là lớn nhưng với quy mô như vậy, hiện tại hoặc trong tương lai có thể coi là nhỏ hoặc vừa. Ngoài ra, mục đích phân loại cũng có tác động tới việc phân loại vì việc phân loại để định mức cấp phát hay để hỗ trợ là hoàn toàn khác nhau.
Đặc điểm của DNNVV Tuy cách định nghĩa DNNVV ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung các DNNVV ở các quốc gia đều có đặc điểm chung đó là: - Quy mô về vốn nhỏ bé, gặp phải nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức. - Trình độ khoa học công nghệ, tay nghề lao động, trình độ quản lý nói chung là thấp so với các Doanh nghiệp lớn. - Thiếu thông tin, thị trường nhỏ bé, quan hệ kinh doanh hạn hẹp. - Sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất ra là thấp, khó tiêu thụ, độ rủi ro cao.
- Hoạt động phân tán, rải rác khắp cả nước nên khó hỗ trợ. Ở Việt Nam, DNNVV có những đặc điểm sau: - Là những DN có quy mô vốn nhỏ, đây thường là những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Với quy mô nhỏ và vừa, các doanh Luan van 13 nghiệp này rất linh hoạt, ứng biến nhanh nhạy với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường, thích hợp với điều kiện sử dụng trình độ kỹ thuật khác nhau như thủ công, nửa cơ khí, để sản xuất ra những sản phẩm thích ứng với yêu cầu của nhiều tầng lớp dân cư có thu nhập khác nhau. - Dễ khởi nghiệp, phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, thông thường để thành lập một DNNVV cần vốn đầu tư ban đầu không lớn, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng vừa phải.
Đặc điểm này làm cho DNNVV năng động, phát triển ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề; nó lấp vào khoảng trống, thiếu vắng của các doanh nghiệp lớn, tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân khai thác mọi tiềm năng, tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn. - Là trụ cột của kinh tế địa phương, nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương và là người góp phần quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. - Khai thác và huy động các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của các địa phương và các nguồn tài chính của dân cư trong vùng. Việc thành lập các DNNVV không đòi hỏi quá nhiều vốn, nhất là đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ.