Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động tài trợ thương mại của ngân hàng thương mại Chương II: Thực trạng hoạt động tài trợ thương mai tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam — Chi nhánh Hoàng Mai. Chương III: Giải pháp day mạnh hoạt động tài trợ thương mại tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam — Chi nhánh Hoang Mai CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI CUA NGAN HÀNG THUONG MẠI 1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 1.1 Khai niệm, vai trò của ngân hàng thương mai “* Khai niệm ngân hàng thương mại Theo giáo trình Tín dụng — ngân hàng năm 2008 của PGS.TS Phan Thị Cúc: “Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, là một tổ chức tín dụng thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội”. Theo tác giả Tran Thị Thúy Hang tại luận văn tốt nghiệp “Cải cách ngân hàng thương mại Việt Nam — Thực trạng và giải pháp”: “Ngân hàng thương mại (hay còn gọi là tô chức tín dụng) là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật dé hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng số tiền gửi dé cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khẩu, tín dụng và tài chính".
Như vậy có nhiều định nghĩa về khái niệm NHTM, tuy nhiên theo tác giả có thé hiểu NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng một hoặc một số nghiệp vụ: nhận tiền gui, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản. “* Vai tro cua ngân hàng thương mai - _ Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nên kinh tế: Thực tế cho thay, dé phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có một lượng vốn lớn dau tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác. Nhưng điều khó khăn hơn lợi ích là cần có người đứng ra tập trung tiền nhàn dỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn.
Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ dé tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội. - _ Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường: Bước sang cơ chế thị trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngân hàng đã làm biến đổi hoạt động rudng lát trong các nha máy, xí nghiệp khơi dậy sức sống bang các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyền giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Điều không thể thực hiện bằng vốn tự có của các doanh nghiệp von di đã rất it oi.
Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng cường nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp, một vấn đề luôn là mối lo thường trực của các doanh nghiệp. Một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp đó là một ngân quỹ để dành cho việc đào tạo đội ngũ lao động phù hợp với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật - công nghệ cao, đặc biệt trong điều kiện nước ta vẫn còn thiếu nhiều những chuyên gia đầu ngành, những cán bộ có năng lực và những công nhân lành nghề. - Ngân hàng thương mai là một công cu dé Nhà nước điều tiết vi mô nền kinh tế. Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng thương mại trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nên kinh tế, Ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp va phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả.
- — Ngân hàng thương mai là cầu nối nên tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế: Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc day nên kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Một trong các điều kiện quan trọng góp phan thúc day sự hội nhập nên kinh tế quốc gia với nên kinh tế thé giới đó là nền tài chính quốc gia. Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hồi và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc té, buôn bán ngoại hối, quan hệ tin dụng với các ngân hàng Nhà nước của Ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phan thúc day hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nên tài chính quốc tế.2Các hoạt động của ngân hàng thương mại Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: Huy động vốn: nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác.Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiêu, trái phiêu đề huy động vôn trong nước và nước ngoài.
Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây: Cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh ngân hàng, phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán trong nước, bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế, các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Cung ứng các phương tiện thanh toán, dịch vụ thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Góp vốn, mua cỗ phần: Ngân hàng thương mại chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ dé góp vốn, mua cổ phần theo quy định Tham gia thị trường tiền tệ: Ngân hàng thương mại được tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc; mua bán công cụ chuyền nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiêu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ. Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh: Sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản, ngân hàng thương mại được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài các sản phẩm sau đây: Phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác.
Nghiệp vụ ủy thác và đại lý: Ngân hàng thương mại được quyén ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại: Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn; Dịch vụ môi giới tiền tệ; lưu ký chứng khoán.2 Hoạt động tài trợ thương mại của ngân hàng thương mại 1.1Khái niệm, đặc điểm của hoạt động tài trợ thương mại Tài trợ thương mại là tập hợp tổng thể các chính sách, biện pháp và hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thương mại trong một hoặc một sỐ hay tất cả các công đoạn của quy trình tái sản xuất từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dich vụ trên thi trường nhăm mục dich sinh lợi. Trong hệ thống Ngân hàng,, tài trợ thương mại được hiểu là hệ thống nghiệp vụ và kỹ thuật liên quan đến việc quản lý và thực hiện các giao dịch thanh toán và tài trợ xuất nhập khâu như nhờ thu, thư tín dụng, bảo lãnh, bao thanh toán, mua bán/chiết khấu hối phiếu và chứng từ liên quan đến xuất nhập khẩu.2Sự cần thiết của hoạt động tài trợ thương mại - _ Tài trợ thương mại như là một chat xúc tác cho sự phát triển. Toàn câu hoá nên kinh tế thế giới tạo ra sự đan xen ngày càng khăng khít các nền kinh tế của các nước với nhau.
Trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà sự tương thích về địa lý đã trở thành tiền đề của đan xen và những lợi ích kinh tế, chính trị cộng đồng có thé sáp gan với lợi ích của các quốc gia thi khả năng hình thành khối kinh tế sẽ xuất hiện. Thương mại quốc tế ngày nay đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các quốc gia vì nó mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của một quốc gia. Thương mại quốc tế cho phép một nước tiêu dùng, các mặt hàng với số lượng nhiều hơn nữa có thể sản xuất ra tại ranh giới của khả năng sản xuất trong nước khi thực hiện chế độ cung tự cấp, không buôn bán với nước ngoài. Thương mại quốc tế xuất hiện rất sớm, song ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia có những nét riêng về phạm vi và mức độ.
Ngày nay, Thương mại quốc tế đã phát triển toàn cầu do xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới và xu hướng hội nhập kinh tế khu vực có các quốc gia. Cơ sở của Thương mại quốc tế là sự trao đối và chuyên môn hoá sản xuất dựa trên lý thuyết về lợi thế so sánh.